Old 27-06-2009, 08:21 AM   #1
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default Halo 3(Chi tiết)



Phát triển: Bungie
Phát hành: Microsoft Game Studios
Hệ máy: Xbox 360
Ngày phát hành: 25 - 9 – 2007
ESRB: Mature (M)
Thể loại: FPS

Finish the fight ...

Câu chuyện của Halo 3 tiếp nối diễn biến 2 phần trước (Halo 2 và Halo: Combat Evolved) kể chuyến hành trình trở về Trái Đất của Master Chief (SPARTAN John-117) để ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark, có như vậy để điều khiển các vòng tròn Halo, thứ đã huỷ diệt toàn bộ sự sống trong dải ngân hà. Trong một phần ngắn của game, Master Chief còn phải chống lại sự xâm nhập của loài Flood vào Trái Đất, thêm vào đó là cuộc giải cứu Cortana khỏi Gravemind. Giờ đây, Master Chief và Arbiter đã trở thành một bộ đôi ăn ý. Có thể nói đây là phần hay nhất trong 3 phần.


Truyện tranh Halo: Uprising của tác giả Brian Michael Bendis do Marvel phát hành

Thực ra, giữa Halo 2 và Halo 3 cốt truyện hoàn toàn chưa liền nhau. Do đó Marvel đã phát hành truyện tranh Halo: Uprising của tác giả Brian Michael Bendis, giải thích những sự kiện còn thiếu giữa 2 phần này.

Halo 3 được phát hành sau một sự chờ đợi dài dai dẳng của các fan vào ngày 25 – 9 tại Bắc Mỹ và Úc, ngày 26 – 9 tại châu Âu và 27 – 9 tại Nhật Bản. Game được ESRB đánh giá là M (Mature) do có những cảnh máu me, bạo lực và sử dụng tiếng lóng.


Halo 3 cũng đã đạt được thành công như các phần tiền nhiệm trước, nhưng lại có phần thành công hơn, phá vỡ kỉ lục của ngành công nghiệp game. 1,7 triệu bản đã được tiêu thụ tại Mỹ, nó đã được ghi nhận vào ngày đầu tiên phát hành. Sau 24 giờ phát hành, Halo 3 đã thu về 170 triệu $ và đã phá kỉ lục, con số này đã vượt quá sự mong đợi của Microsoft – 155 triệu $. Trong mỗi ngày, hơn 1,1 triệu người chơi Halo 3 trên Xbox Live. Sau một tuần phát hành, hơn 2,7 triệu người chơi – gần 1/3 số người tham gia Xbox LIVE vào thời điểm đó. Vào ngày 17 – 11 – 2008, Halo 3 đã bán được 8,8 triệu bản trên toàn thế giới.










Các bài viết ngẫu nhiên cùng chủ đề:

__________________

Hiệu chỉnh lần cuối bởi chief12: ngày 27-04-2010 lúc 07:52 AM..
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 27-06-2009, 11:12 AM   #2
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default


Halo 3 là câu chuyện cuối cùng cho chiến tranh Human – Covenant, chấm dứt cuộc chiến tàn khốc này. Như chúng ta đều biết, có chiến tranh ắt có mất mát, Halo 3 cũng không ngoại lệ, đi theo suốt game ta sẽ thấy những người đã đi theo cuộc hành trình của Master Chief từ đó giờ lần lượt hi sinh, thậm chí đến cuối game anh cũng không thể về tới Trái Đất (MIA – Miss in action). Đặc biệt là quang cảnh tang lễ của quân đội của cuối game, khi xem chúng ta không thể nào không khỏi xúc động. Phải nói rằng, Halo đã tạo dựng nên các nhân vật rất thực, rất có chiều sâu.


Chạy lẹ lên ! Nó đuổi theo kìa !


Trong phần này, Master Chief và Arbiter đã trở thành một bộ đôi ăn ý, luôn sát cánh cùng nhau, vì vậy suốt game ta chỉ điều khiển Master Chief. So với Halo 2 thì giờ đây Halo 3 có rất nhiều điểm vượt trội hơn nhiều. Vẫn giữ được tính chất kịnh tính ngày nào, Halo 3 giờ đã có một kho vũ khí và phương tiện cơ giới còn đồ sộ hơn đứt cả Halo 2, thêm vào đó là sự xuất hiện của các trang bị phụ kiện cũng rất hữu dụng cho người chơi.


Các bộ áo giáp của Spartan và Elite


Trong suốt quá trình chơi game, bạn còn có cơ hội thu thập các Skull để có thể thay đổi bộ áo MJOLNIR Mark VI sang những bộ giáp đẹp hơn, đặc sắc hơn.


Cảnh tượng làm ta nhớ đến bộ phim nổi tiếng “Flag of Our Father”


Halo 3 là phần cuối của cuộc chiến tranh Human – Covenant nhưng đó không là cái mà Bungie hướng tới. Cái mà họ muốn hướng tới là đấu trường mạng (Multiplayer) với hi vọng có thể truất ngôi các game đấu mạng khác. Các bản đồ Multiplayer giờ đây rộng hơn nhiều, các vũ khí, phương tiện và trang bị được bố trí rất nhiều. Môi trường trong game giờ đây rất tự do, đã không ít người chơi tận dụng nó để quay các đoạn phim rất nổi tiếng trên YouTube như Mythbuster, Halo Film, Music Clip, v.v... Đó là lý do tại sao có tới hơn 1,1 triệu người chơi Halo 3 trên Xbox Live mỗi ngày.


Đồ hoạ mê ly


Đồ hoạ được cải thiện là một điều khiến cho các fan hài lòng. Giờ đây đồ hoạ của dòng game Halo dường như đã lên đến đỉnh điểm, giờ đây người chơi có thê ngây ngất say sưa ngắm nhìn môi trường bao la mà Bungie đã dựng nên, nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận không khéo đang mải ngắm cảnh mà bị một cú headshot thì toi đời. Ánh sáng giờ đây thể hiện rất tốt, dễ khi ta lại lầm tưởng là thật. Các bề mặt chi tiết rất mịn, không còn gồ ghề nhiều như Halo 2.

Tiếp đó phải nói tới phần âm thanh, các đoạn nhạc nền vô cùng ấn tượng, tạo nên nhịp độ cao trong các trận chiến, nhiều khi nó còn làm “sung” hơn bình thường. Thêm nữa là phần lồng tiếng, các nhân vật được lồng tiếng rất tuyệt, qua giọng nói có thể miêu tả được tính cách. Có thể thấy rõ nhất là giọng trầm của Master Chief, qua đó ta thấy được anh là một người lính dày dạn kinh nghiệm, can trường, rắn rỏi và luôn bình tĩnh.


Có thể nói, Halo 3 là một cú nhảy vượt bậc trong dòng game Halo, nó đã kế thừa những tinh hoa vốn có và đã có hững sự bổ sung, thay đổi đang được hoan nghênh của cộng đồng game thủ. Với những gì nêu trên, Halo 3 đã thực sự là một cơn sốt khi vừa mới phát hành. Tại Mỹ đã có nhiều học sinh xin nghỉ học vài ngày vào đúng ngày Halo 3 phát hành với lý do nghỉ bệnh để ở nhà ... chơi game. Thêm nữa, vào những ngày gần kề Halo 3 phát hành đã có rất nhiều người sẵn sàng xếp hàng rồng rắn đợi thật lâu, còn có những người dựng lều tại đó ngủ qua đêm để hôm sau sớm mua đĩa về.

Halo 3 là một cú “hit” lớn trong ngành công nghiệp game. Nhờ đó Microsoft có thể tự tin với con át chủ bài Halo của mình. Và có thể đảm bảo được cho sự tiếp bước cho các phiên bản Halo sau này.


Đánh giá:

Gamepro: 5/5
Team Xbox: 9,3/10
IGN: 9,5/10
Game Informer: 9,75
1up: A-
Gametrailers: 9,8/10
Famitsu: 37/40
X-play: 5/5
Computer Videogames: 9,6/10
Official Xbox Magazine (UK): 9/10
Official Xbox Magazine (IT): 9.8/10
Official Xbox Magazine (US): 10/10
Official Xbox Magazine (Australia): 10/10

Các giải thưởng:

Halo 3 đã giành rất nhiều giải thưởng trong ngày đầu phát hành

Spike TV Awards: Game chơi mạng hay nhất, Game có số người “nghiện” nhiều nhất, Game của năm 2007
TIME: Game của năm
Geezer Gamers: Game Geezer của năm, Game chơi mạng của năm
Gametrailers: Game trên máy Xbox 360 hay nhất của năm 2007
X-Play Presents "G-Phoria": Game của năm
EDGE: Giải thưởng Edge về game có đổi mới ảnh hưởng nhất

Ðánh giá: Bài viết khá hay, có chiều sau, chất lượng cao.
Ði?m: +3
__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 30-06-2009, 12:00 AM   #3
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

CỐT TRUYỆN


Master Chief và Arbiter


Câu chuyện của chúng ta tiếp nối Halo 2 sau vài tuần, Master Chief dùng con tàu Dreadnought tiến về Trái Đât ngăn chặn Prophet of Truth tấn công Home World của loài người và bỏ Cortana lại phía sau (cô phải ở lại để điều khiển Delta Halo) Nhưng khi đáp xuống Trái Đất, anh đáp tại một khu rừng ở phía Đông châu Phi và đã bị thương. May thay, Sergeant Major Avery Johnson và một nhóm quân Marine đã cứu được anh, đi theo họ là Thel 'Vadam (còn gọi là Arbiter). Giờ đây Master Chief và Arbiter đồng hành cùng nhau.


Căn cứ ngầm Crow's Nest của UNSC


Cứu được Master Chief, họ đi đến tiêu diệt một căn cứ của Covenant gần đó nhằm đảm bảo căn cứ ngầm Crow's Nest của UNSC không bị phát hiện. Tiêu diệt được xong, họ trở về căn cứ Crow's Nest và đã gặp Miranda Keyes.



Portal dẫn đến vị trí của The Ark

Thông qua Miranda, Master Chief mới hiểu rằng bọn Covenant tiến đến Trái Đất để tìm một thứ gọi là The Ark (còn gọi là Installation 00) thứ có thể điều khiển được các Installation khác. Ở Trái Đất có một cánh cổng dẫn đến The Ark (Có con tàu Dreadnought nó mở ra Slipspace để đến The Ark) Lúc này UNSC đã tìm thấy cánh cổng và mở cuộc tấn công vào đó. Nhưng mọi việc đã muộn, Prophet of Truth đã lên con tàu Dreadnought đi qua Slipspace tiến đến The Ark, các con tàu của Covenant cũng đi qua theo tên Prophet oh Truth.



Mọi người đang xem tin nhắn Cortana để lại

Lúc này mọi chuyện lại càng tệ hơn, một con tàu của Covenant bị nhiễm Flood đâm sầm xuống Trái Đất, cụ thể là thành phố Voi. Giờ đây nhiệm vụ của quân đội là ngăn cản sự lan rộng của loài Flood và họ đã thành công. Trong khi đó, khi Master Chief và Arbiter đi vào trong con tàu đâm xuống Trái Đất, họ đã tìm thấy một tin nhắn của Cortana nhưng nó lại bị lỗi. Thế rồi 343 Guilty Spark xuất hiện, giúp đỡ Master Chief sửa lại tin nhắn. Sau đó, Lord Hood, Miranda Keyes, Master Chief, Arbiter, Rtas 'Vadumee đều có mặt trên tàu Shadow of Intent cùng tin nhắn của Cortana. Qua đó họ biết được bọn Flood đang tiến đến The Ark.



Cuộc không chiến tại The Ark, tương quan lực lượng 1 : 3

Sau khi đã hiểu được sự việc, mọi người đã ra quyết định: chia lực lượng làm 2: một thì mở cuộc không chiến tấn công bọn Covenant, một thì bay xuống The Ark ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark.. Trong cuộc không chiến, dù bị áp đảo về lực lượng (1 chọi 3) nhưng thuyền trưởng tàu Shadow of Intent, Rtas 'Vadumee đã cố gắng chống chọi lại và giành được chiến thắng.


High Charity nhiễm Flood đã làm một Slipspace đâm sầm vào The Ark


Còn ở dưới The Ark, Master Chief đang cố gắng hạ tấm khiên năng lượng bao quanh trung tâm The Ark thì bất ngờ High Charity đã làm một Slipspace đâm sầm vào The Ark. Từ đây bọn Flood từ trong High Charity tràn ra ngoài. Mọi việc càng trở nên khó khăn, một mặt phải mau chóng ngăn chặn Prophet of Truth khởi động The Ark, một mặt lại phải chống chọi với lũ Flood.



Arbiter xử tử Prophet of Truth

Nhưng xui cho lúc này, Prophet of Truth đang bắt giữ Johnson và chuẩn bị khởi động The Ark. Ngay lúc đó Miranda lái chiếc Pelican đâm sầm vào Prophet of Truth. Nhưng sau đó chính tay hắn đã bắn cô, Miranda đã hi sinh. Sau đó Master Chief và Arbiter cũng đã đến đó, có bọn Flood đi theo nhưng chúng không tấn công 2 người, bởi lúc này kẻ thù chung của cả 2 là tên Prophet of Truth. Hắn ta đã bị nhiễm Flood, Arbiter đã dùng Energy Sword đâm hắn, phe Covenant từ đây đã sụp đổ.Họ cũng đã phát ra thêm rằng: The Ark có thể xây dựng lại các Installtion khi chúng bị phá huỷ.



Cortana cho Master Chief xem Index của Installation 04 trước đây

Tiếp đó, Master Chief đi vào High Charity nay đã bị nhiễm Flood tìm kiếm Cortana. Khi kiếm được cô, Master Chief hỏi cô về Index cô có được ở Installation 04 đầu tiên trước kia, bởi theo như tin nhắn của Cortana thì cách để tiêu diệt bọn Flood khi chúng đã lây lan sang cả Installation 04 (cái thứ 2, được The Ark xây dựng lại) và công trình này hiện chưa hoàn thành.



Installation 04 (II)

Master Chief, Johnson, Cortana cùng Arbiter bay đến Installation 04 (II), đi tìm Control Room để kích hoạt cũng như đồng thời phá huỷ vòng tròn này. Khi Johnson đưa Cortana đến bảng điều khiển thì 343 Guilty Spark đã giết chết anh, bởi họ có ý định phá huỷ thứ mà nó bảo vệ. Master Chief đã buộc lòng phải huỷ diệt 343 Guilty Spark và đã khởi động, phá huỷ Installation.



The Ark và Installation 04 (II) đang tự huỷ

Giờ đây Installation 04 đã tiêu diệt hết bọn Flood và nó tiến hành tự huỷ. Vì công trình này chưa xong nên khi phá huỷ nó cũng đã gây ảnh hưởng thiệt hại đến The Ark. Master Chief, Cortana và Arbiter cố gắng chạy thoát khỏi Installation 04 bằng con tàu Forward Unto Dawn. Nhưng rồi con tàu đó đã gãy đôi, một nửa có Arbiter thì bay xuống biển ở Trái Đất và đã được cứu, một nửa kia có Master Chief và Cortana bị trôi dạt đến một hành tinh lạ (MIA – Miss in action)


Cái bắt tay giữa Lord Hood và Arbiter


Cuối cùng tại nơi mà Prophet of Truth đã mở Portal đi đến The Ark, Lord Hood đã cho xây đài tưởng niệm và tổ chức tang lễ của quân đội để tưởng nhớ những người đã hi sinh trong cuộc chiến Human – Covenant, dự buổi lễ có cả Arbiter. Mặc dù ông không tha thứ Arbiter về những gì Covenant đã làm nhưng ông rất cảm ơn Arbiter vì đã sát cánh chiến đấu cùng Master Chief cho đến khi kết thúc. Arbiter cùng Rtas 'Vadumee trở về hành tinh quê hương của mình.

Ðánh giá: Bài viết có nội dung, giá trị
Ði?m: +2
__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 30-06-2009, 11:35 PM   #4
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

NHÂN VẬT

UNSC

Master Chief (John 117)


Tên: John (Không biết họ)
Ngày sinh: Năm 2511
Quê nhà: Hành tinh Eridanus II
Chủng loài: Human – con người
Giới tính: Nam
Chiều cao: 6ft 10in (2,08 m) khi mặc bộ giáp MJOLNIR là 7,2 ft (2,2 m)
Màu mắt: Nâu
Màu tóc: Nâu
Đặc điểm: Có một thần kinh Spartan (Luôn bình tĩnh, giải quyết sự việc nhanh chóng)
Số hiệu Spartan: 117
Nơi phục vụ: UNSC Navy
Chức vụ: Master Chief Petty Officer, Master Chief Petty Officer of the Navy
Nhiệm vụ: Chỉ huy và tấn công


Vị anh hùng của chúng ta, thật sai sót khi không nhắc đến anh. Anh đã tham gia chiến đấu từ đầu đến cuối cuộc chiến Human - Covenant. Được bọn Covenant sợ hãi gọi bằng cái tên “Vadum” và “Demon”. Anh được huấn luyện trong dự án Spartan II, trưởng dự án là tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey nhằm tạo ra những siêu chiến binh có sức dẻo dai và bền bỉ trong cuộc chiến, thêm vào là kĩ năng chiến đấu tuyệt vời. Anh luôn đồng hành cùng Cortana, vì lý do đó anh rất tin tưởng vào Cortana. Lord Hood đã có lần hỏi khi anh có ý định cứu Cortana “Trái Đất, đó là tất cả những gì con người còn. Anh lại tin tưởng Cortana đến thế sao ?” “Vâng, thưa ngài” Nhưng tiếc thay, vị anh hùng của chúng ta lại không thể về được Trái Đất, anh đã ở trong phần còn lại của con tàu Forward Unto Dawn và ngủ đông cùng Cortana, cả hai đã vào tình trạng MIA – Mis in action (Mất tích trong chiến tranh) Lần chót là ta thấy cả hai trôi đến một hành tinh lạ.

Cortana


Năm bắt đầu phục vụ: Khoảng 2548
Giới tính: AI nữ
Mô tả: Cao và mảnh dẻ, cùng với mái tóc ngắn trong Halo: Combat Evolved và dài hơn ở Halo 2 và Halo 3
Màu sắc: Bình thường là xanh dương và tím, xanh lá ở trong trung tâm điều khiển Installation 04, hồng và xanh lá khi tức giận, vui vẻ khi màu hồng
Nơi phục vụ: UNSC
Nhiệm vụ: Phần mềm để xâm nhập hệ thống, hỗ trợ các Spartan


Cô là một trí trông minh nhân tạo (AI) Được tạo ra từ bản sao điện tử bộ não của tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey nổi tiếng, có 20 bản sao được tạo ra, nhưng chỉ có một là sống sót, và nó đã được tạo ra Cortana. Cô luôn là người đồng hành cùng Master Chief và đã có lần cô cứu nguy cho Master Chief. Hai người đã lần đầu gặp nhau ở trận chiến tại Reach. Như đã nói, cô rất được Master Chief tin tưởng. Dù cô chỉ là nhân tạo, nhưng sâu thẳm trong cô vẫn có được cảm xúc của một con người, đặc biệt là của một người phụ nữ. Suốt game, ta thấy được rằng cô đã có một tình cảm với Master Chief. Khi cả hai đã rơi vào tình trạng trôi dạt vô định trong vũ trụ, Master Chief bước vào phòng ngủ đông, Cortana nói “Tôi sẽ rất nhớ anh” nhưng cô đã nhận được câu đáp trả “Đánh thức tôi dậy, khi cô cần đến tôi.” Từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, cả 2 vẫn đồng hành cùng nhau.

Sergeant Major Avery Junior Johnson


Tên thật: Avery Junior Johnson
Ngày sinh: Năm 2470
Ngày mất: Ngày 3 tháng 3 năm 2553
Quê nhà: Thành phố Chicago, Hoa Kỳ, Trái Đất
Chủng loài: Human – con người
Giới tính: Nam
Chiều cao: 6ft 4 (1.94 m)
Màu mắt: Nâu
Màu tóc: Đen
Nơi phục vụ: UNSC Marine Corps
Chức vụ: Sergeant Major (Thượng Si)


Cũng là một người đồng hành cùng Master Chief nhưng không luôn luôn như Cortana. Nhập ngũ từ năm 19 tuổi, ông đã chứng tỏ mình là một người lính giỏi. Ông đã từng được huấn luyện trong Naval Special Warfare Command. Thêm nữa là ông đã tham gia chương tình SPARTAN I “Orion” Group, mặc dù cũng là chương trình Spartan nhưng vì là lần đàu tiên nên áo giáp MJOLNIR chưa được phát triển, ông vẫn mặc các bộ giáp của lính bình thường. Qua chương trình đó, ông được biết đến như người đã bị Flood tấn công nhưng không bị lây nhiễm trong Halo: Combat Evolved. Tuy nhiên, trong Halo 3 ông đã hi sinh, bị 343 Guilty Spark giết. Chúng ta cũng sẽ nhớ đến ông như một người lính can trường, dày dạn kinh nghiệm và vui tính.

Miranda Keyes


Tên thật: Miranda Keyes
Con gái của Jacob Keyes
Ngày sinh: Không rõ ràng, chỉ biết giữa năm 2524 và 2527
Ngày mất: Năm 2553
Quê nhà: Trái Đất
Chủng loài: Human – Con người
Giới tính: Nữ
Chiều cao: 5ft 10in
Màu mắt: Xanh lục
Màu tóc: Nâu
Nơi phục vụ: UNSC, UNSC Navy
Chức vụ: Lieutenant Commander (Chỉ huy trung uý) chỉ huy tàu UNSC Frigate In Amber Clad


Cô là con gái của thuyền trưởng Jacob Keyes quá cố, ông là thuyền trưởng tàu UNSC Pillar of Autumn, hi sinh khi bị Flood tấn công biến thành Proto-Gravemind trong cuộc chiến tại Installation 04 (Halo: Combat Evolved) Mang danh là con gái Jacob Keyes, cô đã không làm thất vọng mọi người. Bằng sự thông minh vốn có của mình, cô đã trở thành một bông hồng của UNSC và vươn lên trở thành chỉ huy tàu UNSC Frigate In Amber Clad, một chức vụ tương xứng với cha cô. Cô tham gia đồng hành cùng Master Chief từ Halo 2. Qua 2 phần, ta thấy cô rất mạnh mẽ và độc lập, cụ thể nhất là việc một mình cô lái chiếc Pelican đâm sầm vào Prophet of Truth giải cứu Johnson, nhưng không ngờ Prophet of Truth đã giết được cô ngay lúc đó. Chúng ta sẽ nhớ mãi cô, một bông hồng gan dạ, cứng rắn mà cũng không kém phần xinh đẹp, niềm tự hào của UNSC.

Fleet Admiral Sir Terrence Hood (Lord Hood)


Ngày sinh: Năm 2492
Quê nhà: Trái Đất
Chủng loài: Human – Con người
Giới tính: Nam
Chiều cao: 6ft 1
Màu mắt: Xanh dương
Màu tóc: Trắng
Nơi phục vụ: UNSC, UNSC Navy
Chức vụ: Thượng tướng hải quân


Ông là chỉ huy của UNSC, sĩ quan đô đốc của UNSC Navy và là sĩ quan chỉ huy của UNSC Home Fleet. Ông xuât hiện từ tiểu thuyết Halo: First Strike. Trong Halo 3, ông là chỉ huy lực lượng phòng vệ Trái Đất. Vì lực lượng của loài người không còn nhiều và đều có chung kẻ thù với Covenant Separatists nên ông đã cùng hợp tác với họ nhưng trong ông vẫn không hài lòng, an tâm về điều này. Đến khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn không thể tha thứ cho Covenant Separatists vì trước đây những gì Covenant gây ra cho con người (Covenant Separatists trước kia vẫn theo Prophet of Truth, tiêu diệt con người) nhưng ông vẫn cảm ơn vì đã sát cánh cùng họ chiến đấu. Đặc biệt, thật bất ngờ khi ta biết được người lồng tiếng cho Lord Hood chính là diễn viên Ron Perlman từng thủ vai Hellboy trong Hellboy và Hellboy: The Golden Army.

__________________

Hiệu chỉnh lần cuối bởi chief12: ngày 06-07-2009 lúc 10:54 AM..
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 30-06-2009, 11:48 PM   #5
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

COVENANT SEPARATISTS

Thel 'Vadam (Arbiter)


Tên thật: Thel 'Vadam
Quê nhà: Sanghelios
Chủng loài: Sangheili (UNSC gọi là Elite)
Giới tính: Nam
Chiều cao: 8ft 6in
Màu mắt: Cam
Nơi phục vụ: Covenant, sau đó là Covenant Separatists
Chức vụ: Arbiter (Thẩm phán)


Từng là một Supreme Commander trong quân đội Covenant nhưng sau đó bị tước bỏ bởi thất bại ở Installation 04. Sau này ông mới biết được sự thật về các Installation và sự sai lầm khủng khiếp về The Great Journey, anh ta cùng Rtas 'Vadum lập thành một phe mới: Covenant Separatists chống lại các Prophet. Trong Halo 3 anh là người đồng hành cùng Master Chief trong các trận chiến. Đến cuối game, giữa anh và Lord Hood đã có một cái bắt tay hoà bình chấm dứt cuộc chiến khủng khiếp nhất của loài người: chiến tranh Human – Covenant. Dù không được Lord Hood tha thứ như đã nói, nhưng ông vẫn được Lord Hood cảm ơn và được xem như một anh hùng.

Rtas 'Vadum


Tên thật: Rtas 'Vadum
Quê nhà: Sanghelios
Chủng loài: Sangheili (UNSC gọi là Elite)
Giới tính: Nam
Chiều cao: 8ft 6in
Màu mắt: Xanh lục trong Halo 2, cam trong Halo 3
Nơi phục vụ: Covenant, sau đó là Covenant Separatists
Chức vụ: Thuyền trưởng tàu Shadow of Intent, trưởng hạm đội Fleet of Retribution


Còn được mệnh danh là gã nửa hàm. Ông là thuyền trưởng tàu Shadow of Intent có kích thước như Truth and Reconlization trong Halo: Combat Evolved, đồng thời là lãnh đạo loài Sangheili (UNSC gọi là Elite) chống lại Prophet of Truth. Trong Halo 2, ông đã gặp phải một cú sốc lớn trong đời khi đã tiêu diệt một trong những chiến hưu thân cận của mình: Sesa 'Refumee. Đến Halo 3, ông đã cùng UNSC hợp lực chống lại Prophet of Truth. Trong Halo 3, ta thấy được ông là một người lãnh đạo rất giỏi, đồng thời cũng rất kiên cường. Bằng chứng là dù tương quan lực lượng ít hơn 1 : 3 nhưng ông vẫn lãnh đạo chiến thắng trận không chiến tại The Ark.

COVENANT LOYALISTS

High Prophet of Truth


Ngày mất: Mùa đông năm 2552
Chủng loài: San 'Shyuum (UNSC gọi là Prophet)
Giới tính: Nam
Chiều cao: Gần 7ft 2in
Màu mắt: Nâu
Màu tóc: Nâu
Nơi phục vụ: Covenant High Council, Covenant Loyalists
Chức vụ: Hierarch (Tạm dịch là Tổng giám mục của Covenant)


Lão là kẻ thù của UNSC và Covenant Separatists. Ở Halo 2, sau cái chết của Prophet of Mercy và Prophet of Regret chết, hắn trở thành kẻ đứng đầu Covenant Loyalists. Hắn luôn thúc ép bọn Covenant phải mau chóng đạt được thứ mà hắn tôn thờ: The Great Journey. Việc người Forerunner xưa kia đã khởi động các Installation để tiêu diệt loài Flood cũng đã gây ra sự diệt vong cho họ đã khiến cho Prophet of Truth nghĩ đó là The Great Journey (Chuyến du hành vĩ đại) Dù hắn đã biết chính con người mới là chủng loài gần với người Forerunner nhất, nhưng hắn sợ khi biết được điều này bọn Covenant sẽ sang tôn thờ con người. Nhận ra được điều đó, hắn mau chóng thúc đẩy bọn Covenant tiêu diệt loài người đẩy đến chỗ diệt vong. Nhưng cái ác luôn thua, kết quả là hắn bị lây nhiễm Flood và sau đó Arbiter giết chết hắn.

FLOOD

Gravemind


Chiều cao: 84,8 m (279,8 ft)
Chủng loài: Flood
Đặc điểm: Đồ sộ, có đầu và nhiều xúc tu, cơ thể dài như con rắn


Gravemind (còn được gọi là Inferi Sententia – Suy nghĩ chết chóc) là thể Flood phát triển nhất trong sự phát triển của Flood. Vì nó sống rất lâu nên bộ nhớ được tích trữ từ nhiều thiên niên kỉ giúp cho nó trở nên sáng xuốt, thông minh lạ thường, để tăng cường thêm, nó cũng đã thu nhặt tất cả xác cơ thể Flood đã chết cũng như xác sinh vật khác rồi kết hợp vào cơ thể nó. Có những sinh vật có tư duy chẳng hạn như con người có được những hiểu biết mà loài Flood cần thì chúng sẽ tấn công và biến sinh vật đó thành Proto-Gravemind để rồi thành thể Gravemind. Gravemind rất tinh ranh và nguy hiểm, chúng luôn tận dụng mọi cách để đảm bào cho sự tồn tại của loài Flood. Cùng với High Prophet of Truth, nó cũng là kẻ thù của UNSC và Covenant Separatists.

FORERUNNER

343 Guilty Spark


Năm bắt đầu hoạt động: 101.217 năm trước năm 2552 hoặc là 101.209 trước công nguyên, tính đến năm 2009 thì nó đã làm việc được 100.674 năm
Năm ngừng hoạt động: 2553 (do Master Chief giết)
Chủng loài: Là một trí thông minh nhân tạo của người Forerunner
Giới tính: Không có (Nói giọng nam)
Đặc điểm: Luôn bay lơ lửng, là một khối hình cầu màu bạc cùng một con mắt màu xanh dương nhưng khi giận dữ mắt chuyển sang màu đỏ


Là một trí thông minh nhân tạo của người Forerunner, nó có vai trò là một người giám sát, là người ghi chép lịch sử tại Installation 04 khi người Forerunner bị diệt vong. Được Covenant biết đến với cái tên “The Oracle” và UNSC gọi là “The Monitor”. Nhiệm vụ cơ bản của nó là bảo vệ các Installation và chống lại loài Flood nên có khi nó vừa là kẻ thù, vừa lại là đồng minh của Master Chief. Trong suốt game Halo, nó đã hé lộ cho ta được phần nào bí mật về người Forerunner. Trong Halo 3, khi Johnson đang đưa Cortana đến bảng điều khiển để phá huỷ Installtion 04 (II) thì nó đã giết chết John và nói với Master Chief “Tôi nghĩ rằng việc giúp các người là sai. Các người là hậu duệ của người tạo ra tôi, là người thừa kế tất cả những gì người Forerunner để lại. Các người là người Forerunner, nhưng vòng tròn này là CỦA TÔI.”

Ðánh giá: Bài viết có nội dung, giá trị
Ði?m: +3
__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 06-07-2009, 10:11 AM   #6
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

CAMPAIGN


Bao gồm 10 màn, trong đó có 9 màn chơi được, kể về cốt truyện Halo 3

1. Arrival
2. Sierra 117
3. Crow's
4. Tsavo Highway
5. The Storm
6. Floodgate
7. The Ark
8. The Covenant
9. Cortana
10. Halo

MULTIPLAYER


Bản đồ cơ bản

Khi phát hành, Halo 3 có 11 bản đồ chơi mạng trên Xbox Live. Halo 3 có số lượng bản đồ chơi mạng ít nhất trong 3 phần, Halo: Combat Evolved có 13, Halo 2 có 12. Để chơi những gì không có, đặc biệt tỏng bản đồ này, nhiều người đã sử dụng Forge. Maps Epilogue, Sand Tarp, Boundless và Pit Stop là những chương trình thay đổi bản đồ của Bungie, chúng có thể thay đổi các chi tiết của bản đồ như vũ khí, phương tiện cơ giới, ...

Construct
Epitaph/Epilogue
Guardian
High Ground
Isolation
Last Resort
Narrows
Sandtrap/Sand Tarp
Snowbound/Boundless
The Pit/Pit Stop
Valhalla

Bộ bản đồ Heroic

Được download thông qua Xbox Live Marketplace. Trước đây phải có được 800 điểm để download về, giờ thì có thể download tự do.

Foundry
Rat's Nest
Standoff

Bộ bản đồ Legendary

Được download thông qua Xbox Live Marketplace với 800 điểm Microsoft. Microsoft giảm điểm xuống còn 600, nhưng nó đã bị ko còn bao gồm Bungie Pro cộng thêm.

Avalanche
Blackout
Ghost Town

Bộ bản đồ Mythic

Được download thông qua Xbox Live Marketplace với 800 điểm Microsoft, hoặc là nhận được mã của bộ bản đồ thông qua mua game Halo Wars bản Limited Edition.

Assembly
Orbital
Sandbox

Bộ bản đồ ODST

Được biết đến như bộ Mythic phần 2, bộ này cũng sẽ phát hành với Halo 3: ODST. Nó sẽ có tren Xbox LIVE Marketplace như một bộ bản đồ độc lập sau khi phất hành Halo 3: ODST.

Citadel
Heretic
Longshore

Cold Storage

Đây là bản đồ được download miễn phí thông qua Xbox Live Marketplace và là bản đồ thứ 7 có thể download cho Halo 3. Được phát hành ngày 7-7-2008, được coi như một món quà dành cho cộng đồng Halo 3 trên toàn cầu.


Ðánh giá: Bài viết có nội dung, giá trị
Ði?m: +1
__________________

Hiệu chỉnh lần cuối bởi chief12: ngày 06-07-2009 lúc 10:55 AM..
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 07-07-2009, 10:38 AM   #7
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

BINH CHỦNG

UNSC

Marine


Năm thành lập: 2163
Nơi phục vụ: United Earth Government
Chi nhánh của: United Nations Space Command (UNSC)


Với tên đầy đủ là United Nations Space Command Marine Corps (UNSC Marine Corps). Đây là lực lượng thuộc chi nhánh của UNSC Defense Force, chịu trách nhiệm về các hoạt đông quân sự dưới đất, bảo vệ lực lượng thuỷ quân cũng như các căn cứ cho chiến tranh. Cả nam lẫn nữ đều được trang bị huấn luyện rất nghiêm khắc, và đa dạng (theo chủng quân) Những người lính giỏi nhất sẽ được đưa vào các chiến trường chống lại lực lượng đông đảo và công nghệ cao của Convenant mà tưởng chừng là nhất định thất bại.

Trong cả 3 phần đều không hề thiếu vắng hình bóng của các Marine. Nhưng so với 2 phần trước thì giờ đây hình ảnh cảu họ rất “oách”: giáp trang bị tốt hơn, vũ khí cũng các phương tiện đi kèm cũng “khủng” hơn. Suốt 3 phần, dù lực lượng ngày càng ít ỏi dần dần rút về lá chắn cuối cùng của con người – Trái Đất, họ vẫn tiếp tục chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Lord Hood, Miranda Keyes, ... vì tương lai sống còn của loài người. Họ được biết đến như là niềm tự hào kiêu hãnh của UNSC.

Spartan


Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
Chi nhánh của: UNSC Naval Special Warfare Command
Loại: Hoạt động quân sự đặc biệt


Là những người lính được mệnh danh “siêu chiến binh”, họ có thể chất vô cùng tốt, kĩ năng chiến đấu tuyệt vời cùng với một thần kinh thép. Họ không được huấn luyện như Marine hay ODST mà được huấn luyện trong chương trình đặc biệt tên là Spartan (SPARTAN Program) do tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey làm trưởng dự án. Khi lần đầu chương trình hoạt động (SPARTAN-I Program hay gọi là ORION Project) thì những người tham gia là tình nguyện. Nhưng đến chương trình thứ 2 và 3 (SPARTAN-II Program và SPARTAN-III Program) thì những người tham gia là những đứa trẻ chỉ mới 6 tuổi, chúng được tiêm thuốc nhằm tăng cường thể chất và huấn luyện rất nghiêm ngặt. Từ đầu những đứa trẻ tham gia rất ít, nhưng sau một thời gian một số đứa sẽ chết đi hoặc tàn phế do cơ thể không thích ứng với chất tiêm vào người. Bộ não của những đứa chết sẽ được lập trình thành AI, những đứa trẻ thích nghi được sẽ được huấn luyện đến khi 18 tuổi, lúc đó chúng sẽ được ra chiến trường. Các người lính Spartan tinh từ từ Spartan II được trang bị giáp MJOLNIR do tiến sĩ Catherine Elizabeth Halsey sử dụng các ghi chép cổ xưa của người Forerunner để chế tạo.

Spartan ta biết trong 3 phần là Sergeant Major Avery J. Johnson, ông tham gia trong SPARTAN-I Program, lúc đó áo giáp MJOLNIR chưa được phát triển, ông vẫn mặc các bộ giáp của lính bình thường, và nhờ đó mà trong Halo: Combat Evolved ông không bị biến đổi khi bị Flood tấn công. Một người nữa không ai khác chính là Master Chief, anh được biết đến như là người lính Spartan II cuối cùng, là hi vọng sau cùng của loài người trên chiến trường cuối cùng – Trái Đất.

Orbital Drop Shock Troopers (ODST)


Năm thành lập: 2525
Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
Chi nhánh của: United Nations Space Command Marine Corps (UNSC Marine Corps)


Ngoại trừ các Spartan thì ODST là lực lượng mạnh nhất của quân đội. Họ được tuyển chọn những Marine xuất sắc nhất của UNSC. Họ được biết đến như là những mũi nhọn tấn công tại phía sau chiến tuyến của quân thù. Với chiến trường của ODST khốc liệt hơn hắn nên ban đầu các nhiệm vụ đa phần là tình nguyện tham gia, có khi bị xem là điên rồ. Một điều đặc biệt nữa là có một vài sĩ quan của ODST từng tham gia huấn luyện các Spartan thuộc chương trình Spartan II. Nhưng vì các Spartan giỏi hơn và có phần “tàn bạo” hơn nên đã gây nên sự kì thị giữa ODST và Spartan. Các ODST nghĩ rằng các Spartan không đáng dược gọi là “con người”.

Cũng như Spartan, họ cũng được trang bị bộ giáp riêng. Bộ giáp Pressurized Battle Armor của họ chỉ thua đứng sau MJOLNIR. Thoạt nhìn Pressurized Battle Armor có gì đó giống MJOLNIR và được xem như là giáp "rút gọn" từ MJOLNIR. Vì phương tiện để họ đổ bộ đến chiến trường chủ yếu là HEV nên bộ giáp giúp họ có thể sống sót trong nhiệt độ kinh hoàng bên trong HEV (do được thả từ trên không rất cao ) Bộ giáp Pressurized Battle Armor được thiết kế riêng theo từng vai trò và điều kiện chiến đấu.

Voi Factory Workers (Công nhân nhà máy thành phố Voi)


Năm thành lập: 2552
Nơi phục vụ: United Nations Space Command (UNSC)
Vai trò: Sản xuất hàng hoá


Lần đầu tiên ta thấy trong game Halo có sự góp mặt của dân chúng. Họ là công nhân của nhà máy Traxus Complex 09 (Traxus Factory Complex 09). Họ không có nhiều vũ khí chiến đấu như các Marine nên khả năng chiến đấu của họ rất kém. Trong trận chiến tại thành phố Voi, họ đã giúp đỡ Master Chief và Arbiter chiến đấu chống lại bọn Convenant Loyalists. Nhưng sau đó Flood tấn tông, họ biến thành Flood Combat Form rồi bị tiêu diệt khi Convenant Separatists dùng vũ khí Plasma trên tàu Battlecruiser nhằm tiêu diệt tận gốc Flood tại Trái Đất. Họ xuất hiện trong màn “The Storm”.

CONVENANT SEPARATISTS

Sangheili (Elite)


Hành tinh quê nhà: Sanghelios
Chiều cao: 8ft 6 (2,62 m), khi đang chiến đấu đầu cúi xuống là 7ft 2
Cân nặng: 317 pounds (140 Kg)
Màu da: Nâu, xám, đen
Mô tả: Giống như loài bò sát với đặc tính cấu trúc của động vật có vú, răng giống răng loài chó, máu màu tía, hàm dưới có tới 4 khớp riêng biệt, hệ tuần hoàn nhị phân, rất giống loài động vật móng guốc 2 chân với cấu trúc tay và chân như của con người.


Sangheili (tiếng Latin là Macto cognatus có nghĩa “Tôi tự hào mang dòng máu cha ông”) là những người lính hung tợn, mạnh mẽ, kiêu ngạo cũng như là những nhà chiến thuật nhiều kinh nghiệm. Loài Sangheili được đặt tên gần giống như hành tinh quê nhà của chúng: Sanghelios. Được con người biết đến với tên gọi Elite do có lẽ là nhỡ vào kĩ năng chiến đấu thuần thục và đày dạn kinh nghiệm của chúng. Họ luôn là chủ chốt cho hầu hết các hoạt động quân sự của loài Covenant. Họ cũng có những mối thù hằn rất sâu sắc với loài Brute.

Ban đầu giữa Elite và Prophet đã có một bản giao ước hoà bình và sáng lập thành một chủng tộc thống nhất với cái tên Covenant. Nhưng sau đó loài Elite đã tách ra thành lập một phe riêng biệt với tên gọi Covenant Separatists vì các Prophet đã trở mặt có ý diệt chủng loài này. Điều này đã xảy ra khi Master Chief ra tay giết chết Prophet of Regret. Elite là loài đã phải chịu trách nhiệm cái chết của Prophet of Regret, và điều đó trở thành bàn đạp để các Prophet cho rằng Elite không còn đáng để tham gia các hoạt động quân sự cũng như bảo vệ các Prophet. Các Prophet đã chọn một chủng tộc khác thay thế họ: loài Brute.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 08-07-2009, 08:38 AM   #8
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

COVENANT LOYALISTS

San 'Shyuum (Prophet)


Chiều cao: 7ft 2in (2,2 m)
Cân nặng: 200,6 pounds (91 kg)
Màu da: Nâu hồng, xám hồng
Mô tả: Cổ dài, mang hình dáng và tính cách giống con người


San 'Shyuum (tiếng Latin là Perfidia vermis có nghĩa “Con sâu bội bạc”), được con người biết đến với tên gọi Prophet, giống như loài động vật có vú, là những người lãnh đạo chủng tộc Covenant, là một trong những loài huyền bí nhất trong ban lãnh đạo Covenant. Các Prophet hoàn toàn kiểm soát các vấn đề chính trị và tôn giáo, thực hiện các vai trò của nhà chính trị, tôn giáo của Covenant. Chúng luôn cho rằng khi khởi động các vòng tròn Halo thì chúng sẽ đạt được The Great Journey, nhưng thực chất hành động đó sẽ gây nên sự diệt vọng của tất cả các sinh vật sống trong dãy ngân hà cũng như đã gây ra sự biến mất xưa kia của người Forerunner mà bọn Covenant luôn tôn thờ. Mặc dù thể chất của các Prophet thua kém hơn hắn các loài khác của Covenant nhưng nhờ vào kiến thức đồ sộ của chúng về người Forerunner đã khiến cho chúng có quyền lực tuyệt đối và cũng khiến chúng nguy hiểm nhất trong Covenant.

Jiralhanae (Brute)


Hành tinh quê hương: Doisac
Chiều cao: 8.9 ft đến 9.2 ft (2,72 m đến 2,80 m)
Cân nặng: 1,124 pounds (510 kg)


Jiralhanae (tiếng Latin là Servus ferox có nghĩa “Nô lệ man rợ”), được con người biết đến với tên Brute bởi hình dáng giống loài khỉ, là một loài trong Covenant. Sau loài Jackals, Brute và Grunt là 2 loài chạm trán với con người thứ hai. Loài Brute cũng cú mối thù hằn rất sâu sắc với loài Elite, hơn hẳn tất cả các loài khác trong Covenant.

Bọn Brute là một phần của Covenant từ khi hành tinh Harvest bị phá huỷ, loài Elite lo sợ lũ Brute bởi chúng hay tự đại. Kế hoạch chiếm lấy quyền lực của Elite bắt đầu khi chúng liên minh với loài Prophet trong cuộc chiến tại Harvest và vẫn tiếp tục cho đến khi nội chiến của Covenant xảy ra và loài Elite rút ra khỏi đế chế Covenant. Sau đó chúng đã giành được vị trí bảo vệ các Prophet từ loài Elite khi mà loài Elite đã không ngăn chặn được Master Chief giết chết Prophet of Regret.

Mgalekgolo (Hunter)


Hành tinh quê hương: Te
Chiều cao: 12ft 9in (3,93 m)
Cân nặng: 10.500 pounds (4762 kg)
Màu da: Đỏ cam
Mô tả: Cơ thể bao gồm các sinh vật giống như giun tập hợp thống nhất thành một gọi là Lekgolo


Mgalekgolo (tiếng Latin là Ophis congregatio có nghĩa “Tập hợp rắn”) là loài độc nhất có cấu trúc gồm các sinh vật nhỏ hơn gọi là Lekgolo. Lekgolo là loài nhỏ bé, màu cam, giống như con sâu nên chúng đã tập hợp lại với nhau thành một cơ thể độc lập thống nhất để tăng cường trí tuệ, sức mạnh và khả năng của chúng. Loài người gọi Mgalekgolo là Hunter. Sau cuộc nội chiến của Covenant, giữa loài này đã có sự phân tách: một sô theo Covenant Separatists, một số thì ở lại Covenant Loyalists. Đây là loài duy nhất bị Flood tấn công nhưng không bị biến đổi, bởi như đã nói, chúng không là một cơ thể riêng biệt mà là do nhiều sinh vật Lekgolo hợp thành.

Unggoy (Grunt)


Hành tinh quê hương: Balaho
Chiều cao: Khoảng 5 ft
Cân nặng: 101 pounds (46 kg)
Màu da: Xám xanh, nâu, xám
Mô tả: Thấp, khoẻ, đầu tròn, da mịn (trong Halo: Combat Evolved và Halo 2) và nhăn (trong Halo 3), giọng nói như chuột kêu, tứ chi phát triển


Unggoy (tiếng Latin là Monachus frigus có nghĩa “Thầy tu băng giá” hay theo tiếng Tagalog là “Con khỉ”) được con người gọi với cái tên Grunt, là loài có thân hình nhỏ nhắn phục vụ cho Covenant trung thành nhất. Chúng là loài có cấp bậc thấp nhất trong xã hội Covenant nên được sử dụng như tấm chắn đỡ đạn hay công nhân. Chúng luôn luôn bị loài Brute ngược đãi. Grunt là một trong các loài gia nhập đế chế Covenant sớm nhất. Grunt là loài được thiết kế bao gồm loài bò sát và động vật có vú, mặc dù trên thực tế chúng như loài động vật chân đốt. Sau loài Jackals và Brute, Grunt là loài thứ 3 mà con người chạm trán.

Kig-yar (Jackal)


Hành tinh quê hương: Eayn
Chiều cao: 5ft 8in
Cân nặng: 159 pounds (79 kg)
Màu da: Cam: xanh lục đậm, nâu nhạt
Mô tả: Cao, ốm có đôi mắt to, có móng vuốt và hàm răng sắc bén


Kig-yar (tiếng Latin là Perosus latrunculus có nghĩa “Kẻ cướp đầy hận thù”) con người gọi là Jackal, là chủng loài phục vụ cho đế chế Covenant chỉ nhắm mục đích trục lợi và sau này là Covenant Loyalists. Con người đã tránh, hạn chế chạm trán với bọn quái vật Jackal này. Chúng được biết đến như là chủng loài nhanh nhẹn, xấu xa và khéo léo mặc dù chúng không phải là loài mạnh nhất trong đế chế Covenant. Jackal được chọn làm lính bắn tỉa hay trinh sát nhờ ý thức cảnh giác cao, khả năng đánh hơi và lắng nghe tuyệt vời. Chúng là chủng loài đầu tiên của đế chế Covenant mà con người chạm trán.

Yanme'e (Drone)


Hành tinh quê nhà: Palamok
Chiều cao: 5ft 10in (1,79 m)
Mô tả: Hình dáng giống như loài côn trùng, có cánh và biết bay


Yanme'e (tiếng Latin là Turpis rex có nghĩa “Vị vua đáng hổ thẹn”) được con người gọi với cái tên Drone, được biết đến là những người lính thông minh, mang hình dáng côn trùng và biết bay của đế chế Covenant.

Được các bộ binh của UNSC gọi với cái tên “Lũ sâu bọ” hay “Drone”. Dù ta thấy chúng chỉ đôi khi xuất hiện với tư cách là một phần của Covenant, nhưng chúng đã tham gia cuộc chiến với loài người. Với ưu thế có thể chiến đấu hỗ trợ từ trên không, chúng đã trở thành những chiến lược thuận lợi khó mà vượt qua được của Covenant. Chúng thường đi theo đàn với số lượng từ 12 đến 50 tên.

Ðánh giá: Bài viết có nội dung góp ý xây dựng
Ði?m: +3
__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 08-07-2009, 05:28 PM   #9
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

FLOOD

Infection Form


Chiều cao: 88 cm (2,9 ft)
Mô tả: Nhỏ, hình dáng như quả bóng và nhiều xúc tu để thăm dò môi trường xung quanh
Tấn công: Đi theo đàn tấn công con mồi có kích thước lớn hơn, đâm xiên thủng da để lây nhiễm vật chủ hay làm suy yếu lớp giáp đối phương


Đây là thể Flood đầu tiên của loài Flood, là loài thường hay bắt gặp nhất và cũng là loài để tấn công lây nhiễm vật chủ thành các dạng Flood cao cấp hơn nhằm bành trướng loài Flood. Chúng thường luôn đi chung với số lượng lớn.

Combat Form


Mô tả: Da của vật chủ có màu xanh xám và thối rữa, Chúng được trang bị vũ khí, quần áo của vật chủ trước đây. Cái đầu của vật chủ quẹo sang một bên nhằm tạo chỗ cho Infection Form bám vào (lúc này Infection Form trở thành giống như đầu) Ta thấy rõ nhất với vật chủ là con người.
Tấn công: Tấn công nạn nhân bất ngờ, sử dụng xúc tu như roi, sử dụng vũ khí của vật chủ


Combat Form là thể Flood ngay sau khi nạn nhân bị Infection Form tấn công. Sau khi bị lây nhiễm, trên cơ thể vẫn còn bộ quần áo, trang bị vũ khí của nạn nhân. Chúng có vai trò tấn công các mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ cho loài Flood. Khi tấn công chúng thường phối hợp cùng nhau.

Carrier Form


Chiều cao: 2 m (6,6 ft)
Mô tả: Lớn, phần thân trên phồng to lên cùng với 2 xúc tu, chân ngắn và mập
Tấn công: Áp sát nạn nhân và thả các Infection Form nhằm lây nhiễm họ


Đây là thể Flood thường thấy, chúng có vai trò sinh sản và vận chuyển các Infection Form, với hình thức như vậy chúng có thể khiến cho loài Flood có thể lan rộng. Dù chúng di chuyển rất chậm nhưng một khi đã áp sát đối phương thì sẽ rất nguy hiểm.

Tank Form


Chiều cao: 4 m (12 ft)
Mô tả: Là thể Flood to lớn và mạnh mẽ nhất của bậc phát triển Pure Form, không thể sử dụng vũ khí, biến đổi từ Stalker Form
Tấn công: Đôi tay rất lợi hại khi cận chiến, có thể thả các Infection Form


Đây là thể Flood lần đầu xuất hiện trong Halo 3, thuộc bậc phát triển Pure Form, biến đổi từ Stalker Form. Chúng thực sự là nỗi kinh hoàng với đôi tay to lớn, thân hình đồ sộ và mạnh mẽ của chúng. Thoạt đầu nhiều người lầm tưởng đây là do loài Hunter của Covenant bị lây nhiễm nhưng loài Hunter không có một cơ thể riêng biệt mà là do các sinh vật hình giun tên Lekgolo tập hợp mà thành, vì lẽ đó mà Hunter không thể bị lây nhiễm được.

Stalker Form


Chiều cao: Khoảng 1 m
Mô tả: Giống loài cua và nhện, thân hình nhỏ, chân phát triển, có thể chạy nhanh và nhảy ở cự li rất xa
Tấn công: Cận chiến, có thể leo tường


Là thể Flood thuộc bậc Pure Form, chúng là bậc thầy của tấn công lén lút và thân pháp rất nhanh nhẹn. Chúng được sinh ra từ sự tái tạo loài xương của các nạn nhân. Khi cần thiết chúng sẽ biến đổi sang thể Ranged Form hay Tank Form. Chúng sẽ bò sát ngay ở phía dưới đối phương và bất ngờ đột ngột tấn công cho đến khi đối phương chưa kịp nhìn xuống. Chúng có thể dễ dàng trèo lên tường hay trần nhà rồi bất ngờ nhảy xuống tấn công như thể Combat Form. Dù vậy chúng lại không mạnh như Tank Form hay Ranged Form, chúng là thể dễ bị giết nhất trong 3 thể của bậc Pure Form.

Ranged Form


Chiều cao: Khoảng 8 ft
Mô tả: Có thể bắn ra các gai nhọn, có thể cuộn tròn như quả banh và bám được trên tường và trần nhà
Tấn công: Bắn các gai nhọn từ khoảng cách xa

Là thể Flood biến đổi từ Stalker Form thuộc bậc Pure Form trong Halo 3. Chúng biến đổi khi Stalker Form bị thương hay chúng chọn một nơi cố định trên tường, trần nhà hay mặt đất. Trên cơ thể chúng có một chỗ u ra giống như miệng mà nơi đó bắn ra các gai nhọn tấn công đối phương. Chúng có thể cuộn tròn người lại, đến khi đó chúng trở nên khó tiêu diệt.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 08-07-2009, 06:26 PM   #10
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

FORERUNNER

Sentinel


Kích thước: 2,48 m
Nhiệm vụ: Bảo vệ
Sức mạnh: Trung bình
Lần đầu chạm trán: 21 - 9 - 2552


Sentinel là một cỗ máy tự động do người Forerunner cổ xưa tạo ra, nó có một trí tuệ nhân tạo không trung bình. Nó có nhiệm vụ tiệu diệt bọn Flood phòng khi chúng thoát ra khỏi nơi giam giữ và bảo vệ các công trình của người Forerunner. Trên chúng có gắn một vũ khí năng lượng gọi là Sentinel Beam rất hiệu quả khi chống lại Flood. Khi Sentinel bị hạ, ta có thể lấy vũ khí đó sử dụng.

Constructor


Kích thước: Nhỏ, cỡ từ khẩu súng Plasma Pistol và Plasma Rifle của Covenant
Nhiệm vụ: Sửa chữa
Sức mạnh: Yếu
Lần đầu chạm trán: Tại Delta Halo (Installation 05), năm 2552


Chúng được người Forerunner sáng chế ra, có nhiệm vụ tìm kiếm và sửa chữa các thiệt hại hư hao của các công trình của người Forerunner để lại. Các Sentinel đi cùng để bảo vệ chúng vì Constructor không hề có vũ khí để tự bảo vệ. Khi bị tấn công, chúng sẽ tạo ra một tính hiệu để kêu gọi Sentinel đến giúp đỡ. Constructor được xem như một thiết bị an ninh hoàn hảo.

Monitor


Nhiệm vụ: Giám sát, trông nom các công trình của người Forerunner
Sức mạnh: Rất mạnh
Lần đầu chạm trán: Tại Alpha Halo (Installation 04), năm 2552


Monitor là trí thông minh nhân tạo (AI) bậc cao, được người Forerunner chế tạo 100.000 năm trước nhằm giám sát bảo vệ các công trình của họ cũng như đảm bảo bọn Flood luôn bị giam giữ chặt chẽ không thể thoát ra ngoài. Monitor vô cùng thông minh và chúng có rất nhiều kiến thức về loài Flood cũng như về người Forerunner.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 09-07-2009, 11:09 AM   #11
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

VŨ KHÍ

UNSC

MA5C Individual Combat Weapon System (Assault Rifle)


Chủng loại: Bullpup Assault Rifle
Kích thước: 88 cm (34,6 in) - Cầm hai tay
Khối lượng: 4,1 kg (9,05 lbs)
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 32 viên
Chế độ: Tự động
Đạn: 7,62 x 51mm FMJ
Tốc độ: 10 rnds/ s
Vận tốc: 905 m/s
Chính xác: Thấp và trung bình
Tầm xa: Gần và trung bình


MA5C Individual Combat Weapon System (được viết tắt là MA5C ICWS) còn được biết với tên gọi MA5C Assault Rifle. Được cải tiến từ khẩu súng tiền nhiệm MA5B. Đây là khẩu được quân đội sử dụng rộng rãi. Khẩu súng này đã xuất hiện ở Halo: Combat Evolved nhưng lại biến mất trong Halo 2, đến Halo 3 nó đã tái xuất. Trong các hình ảnh của Halo luôn có sự xuât hiện của MA5C, đây được coi là biểu tượng của sự sáng tạo của đội ngũ nhà thiết kế game của Bungie.

BR55HB SR Battle Rifle (Battle Rifle)


Chủng loại: Bullpup Battle Rifle
Kích thước: 89,9 cm (35,4 in) – Cầm hai tay
Khối lượng: 8,378 lbs
Sát thương: Trung bình (với lính có giáp) và khá (lính bình thường)
Băng đạn: 36 viên
Chế độ: Một loạt (Burst) 3 viên
Đạn: 9,5 x 40mm M634 X-HP-SAP
Tốc độ: 2,4 Bursts/ s
Chính xác: Cao
Tầm xa: Trung bình và xa


BR55HB SR Battle Rifle được cải tiến từ khẩu BR55 xuất hiện trong Halo 2. Vừa có thể bắn ở cự li gần, vừa có thể bắn cự li xa với ống kính nhắm 2x. BR55HB trở thành một trong những vũ khí tốt nhất của UNSC.

M6G Personal Defense Weapon System (Magnum)


Chủng loại: Magnum Caliber Pistol
Kích thước: 26,7 cm (10,5 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 2,95 kg (6,5 lbs)
Sát thương: Cao (với lính có giáp) và rất cao (headshot)
Băng đạn: 40 viên (cầm một khẩu) và 80 viên (cầm hai khẩu)
Chế độ: Bán tự động
Đạn: 12,7 x 40mm M225 SAPHE
Tốc độ: 2 rnds/ s
Vận tốc: 427 m/ s
Chính xác: Trung bình và cao
Tầm xa: Gần đến trung bình (100 m)


Không một fan dòng game Halo mà không biết đến khẩu súng này. M6G Personal Defense Weapon System (viết tắt là M6G PDWS) còn được gọi là M6G Magnum Sidearm. Đây là khẩu súng lục thông dụng nhất của UNSC, không một người lính nào thiếu nó. M6G là một trong những phiên bản của dòng súng lục M6.

M7/Caseless Submachine Gun (SMG)


Chủng loại: Submachine Gun
Kích thước: 47,4 cm (18,66 in.) - Cầm hai khẩu
Khối lượng: 2,88 kg (6,36 lbs)
Sát thương: Thấp và trung bình
Băng đạn: 60 viên
Chế độ: Tự động
Đạn: 5 x 23mm M443 Caseless MFJ
Tốc độ: 15 rnds/ s
Vận tốc: 427 m/ s
Chính xác: Thấp đến vừa
Tầm xa: 50 m


M7/Caseless Submachine Gun được biết đến đơn giản với tên gọi SMG, là một trong những khẩu súng tốt nhất của UNSC. Sẽ đáng sợ hơn khi được lắp nòng giảm thanh, lúc đó sẽ được gọi là M7S.

M9 High-Explosive Dual-Purpose Fragmentation Grenade (Frag Grenade)


Chủng loại: Grenade
Kích thước: 9,5 cm (3,9 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 4 kg (8,75 lbs)
Sát thương: Rất cao
Chế độ: Ném
Vận tốc: Vừa
Chính xác: Phụ thuộc vào lực ném
Tầm xa: Phụ thuộc vào lực ném


Là loại lựu đạn phổ biến của UNSC. Có tên gọi là Fragmentation Grenade, Frag Grenade, hoặc chỉ đơn giản là Frag. Khi nổ, các miếng kim loại nhỏ bên trong bay văng ra với vận tốc cao có tác dụng như đạn. Khi Frag Grenade nổ, nó sẽ phá huỷ mọi thứ trong tầm bán kính 9 m.

M41 SSR MAV/AW Rocket Launcher (Rocket Launcher )


Chủng loại: Rocket Launcher
Kích thước: 134,9 cm (4,426 ft) – Cầm hai tay
Sát thương: Rất cao
Băng đạn: 2 quả tên lửa
Chế độ: Bán tự động
Đạn: 102mm High-Explosive Anti-Tank Shaped Charge
Vận tốc: Vừa
Chính xác: Cao
Tầm xa: Ngắn đến trung bình


M41 SSR MAV/AW thực sự là nỗi sợ hãi của các phương tiện cơ giới. Khẩu Bazoka này thay thế cho M19 SSM trong Halo: Combat Evolved và Halo 2.

M90 Close Assault Weapon System (Shotgun)


Chủng loại: Shotgun
Kích thước: 123,9 cm (48,8 in) – Cầm hai tay
Khối lượng: 5,8 kg (12,8 lbs)
Sát thương: Rất lớn (tầm gần) và trung bình (tầm xa trung bình)
Băng đạn: 6 viên
Chế độ: Bắn từng viên
Đạn: Soellkraft 8 Gauge Shell
Chính xác: Thấp đến trung bình
Tầm xa: Thấp đến trung bình


Nếu như Covenant có Energy Sword thì con người có M90. Đây là khẩu súng cận chiến tốt nhất của con người, được những người lính giáp chiến ưa dùng. Đây chính là khẩu súng hữu dụng nhất của con người khi chống lại loài Flood – một phát là banh.

Sniper Rifle System 99D-S2 Anti-Matériel (Sniper Rifle)


Chủng loại: Anti-Matériel Sniper Rifle
Kích thước: 187,5 cm – Cầm hai tay
Sát thương: Rất lớn, chết ngay chỉ với một viên headshot
Băng đạn: 4 viên
Chế độ: Bán tự động
Đạn: 14,5 x 114mm APFSDS
Tốc độ: 2 rnds/ s
Chính xác: 97,3 %
Tầm xa: Rất xa


Sniper Rifle System 99D-S2 Anti-Material (được viết tắt thành SRS99D-S2 AM) được biết đến với cái tên thông dụng SRS99D-S2 AM Sniper Rifle. Đây là khẩu súng nhắm duy nhất và mạnh nhất của UNSC. Với độ chính xác gần như tuyệt đối cùng với sức công phá cao của SRS99D-S2 AM, nó đã thành một nỗi sợ hãi của đối phương, kể cả lính có giáp.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 09-07-2009, 11:11 AM   #12
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

Weapon/Anti-Vehicle Model 6 Grindell/Galilean Nonlinear Rifle (Spartan Laser)


Chủng loại: Directed Energy Weapon
Kích thước: 98,7 cm (38,8 in) – Đeo trên vai
Khối lượng: 20,4 kg (45 lbs)
Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng
Chế độ: Nạp pin, bắn từng phát một
Đạn: Battery Cells
Tốc độ: Rất chậm, 1 shot/ 5s
Chính xác: Tuyệt đối
Tầm xa: 500 m


Weapon/Anti-Vehicle Model 6 Grindell/Galilean Nonlinear Rifle (viết tắt là W/AV M6 G/GNR) còn được gọi là Spartan Laser, nó có khả năng chống phá cả các phương tiện cơ giới. Vì là súng Laser nên “đạn” có đường đi cũng giống như ánh sáng, nhờ đó nên Spartan Laser có một độ chính xác tuyệt đối. Trang bị thêm nữa là một ống nhắm 5x khiến cho nó trở thành một súng nhắm lợi hại. Đây là vũ khí dành riêng cho các Spartan.

AIE-486H Heavy Machine Gun (Machine Gun Turret)


Chủng loại: Portable Gatling turret
Kích thước: Cầm hai tay
Sát thương: Trung bình và cao
Băng đạn: 200 viên (khi cầm tay) và vô hạn (gắn trên giá đỡ)
Chế độ: Tự động
Đạn: 7,62 x 51mm SLAP
Tốc độ: Cao
Chính xác: Thấp dến trung bình
Tầm xa: Trung bình


AIE-486H Heavy Machine Gun được mệnh danh là “Kẻ huỷ diệt”. Nó có thể chống chọi lại các phương tiện cơ giới nhẹ cũng như dễ dàng thổi bay lính có giáp hay máu trâu. Trong Halo 3, khẩu súng này đã được “tút” lại cho đẹp hơn so với 2 bản đầu.

LAU-65D/SGM-151 (Missile Pod)


Chủng loại: Missile Launcher
Kích thước: Cầm hai tay
Sát thương: Trung bình đến cao
Băng đạn: 8 quả tên lửa (missile) (khi cầm tay) và vô hạn (gắn trên giá đỡ)
Đạn: Guided armor piercing missile
Tốc độ: 2.5 missiles/ s
Tầm xa: Xa


Còn được biết đến với cái tên đơn giản là Missile Pod. Lần đầu xuất hiện trong Halo 3, Missile Pod còn mạnh hơn cả Rocket Launcher. Nó có thể biến người dùng thành một xe tăng hạng nhẹ có thê thổi bay tất cả. Đây thực sự là một đối thủ đáng gờm.

M7057/Defoliant Projector (Flamethrower)


Chủng loại: Flamethrower
Kích thước: 116,8 cm (46 in) – Cầm hai tay
Khối lượng: 55,5 kg (122,5 lbs)
Sát thương: Cao
Băng đạn: 100 đơn vị chất đốt
Chế độ: Phun lửa liên tục
Nhiên liệu: Pyrosene-V
Chính xác: Cao (tầm gần) và trung bình (tầm trung bình)
Tầm xa: Ngắn, 13,4 m (44 ft)


Được biết đến với cái tên gọn hơn là M7057 Flamethrower. Đây là nỗi sợ của loài Flood với ngọn lửa nóng ngàn độ có thể nướng chín chúng chỉ trong tích tắc. Bên ngoài được vẽ hình hàm cá mập tăng độ “ngầu” của súng phun lửa này.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 10-07-2009, 09:16 AM   #13
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

COVENANT

Type-1 Antipersonnel Grenade (Plasma Grenade)


Chủng loại: Anti-Personnel Grenade
Kích thước: Đường kính 15,1 cm – Cầm một tay
Sát thương: Rất cao
Chính xác: Phụ thuộc vào lực ném
Tầm xa: Phụ thuộc vào lực ném


Đây là loại lựu đạn của Covenant nhưng Covenant không tạo ra chúng mà là người Forerunner cổ xưa tạo ra, bằng chứng rõ nhất cho việc này là có biểu tượng của người Forerunner trên quả lựu đạn (Hình vẽ màu xanh trên nền đỏ trong hình) Quả lựu đạn này có thể dích lên mục tiêu và tự động phát nổ sau 3 giây kể từ lúc ném.

Type-1 Energy Weapon/Sword (Energy Sword)


Chủng loại: Energy Weapon/Sword
Kích thước: 131,7 cm (4,321 ft) – Cầm một tay
Sát thương: Có thể phá cả 1 cây giáp hoặc 2/3, khi chém có thể gây chí mạng
Năng lượng: 100 đơn vị năng lượng
Chế độ: Cận chiến
Tốc độ: 1,5s một nhát chém, 5s một phát đâm
Chính xác: Vô cùng cao
Tầm xa: 1 - 2 m


Đây là vũ khí được rất nhiều người yêu thích. Được loài Sangheili chuyên sử dụng. Đây thực sự là một vũ khí ghê gớm với độ chính xác rất cao và sử dụng linh hoạt. Rất tốt để tấn công loài Flood.

Type-25 Directed Energy Pistol (Plasma Pistol)


Chủng loại: Directed Energy Pistol
Kích thước: 34,4 cm (13,5 in.) – Cầm một tay
Khối lượng: 3,5 kg (7,75 lbs)
Sát thương: Thấp
Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng (200 phát bắn)
Chế độ: Bán tự động
Đạn: Superheated Plasma
Vận tốc: 108 m/ s
Chính xác: Trung bình
Tầm xa: 50 m (155 ft)


Khẩu súng này được loài Unggoy, Kig-Yar, và Yanme'e chuyên sử dụng, Khi bắn có 2 cách: bắn từng phát hoặc giữ nút gồng bắn đạn mạnh hơn nhưng sau đó sẽ bị overheating. Đây là khẩu súng thuộc loại khá.

Type-25 Directed Energy Rifle (Plasma Rifle)


Chủng loại: Rifle
Kích thước: 66 cm (26 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 5,8 kg (13 lbs)
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng (400 phát bắn)
Chế độ: Bán tự động, tự động
Đạn: Superheated Plasma
Tốc độ: 360 ~ 540 shots/ min
Vận tốc: 126 m/ s (413 ft/ s)
Chính xác: Vừa
Tầm xa: Ngắn đến trung bình


Được biết đến với cái tên thông dụng là Plasma Rifle. Đây là khẩu súng thuộc loại khá. Khi bắn có thế giữ nút để bắn liên tục, đây là một cách hữu hiệu để phá giáp hay áp đảo đối phương.

Type-26 Anti-Personal Stationary Gun (Shade)


Chủng loại: Stationary Turret
Kích thước: 2,6 m (8,5 ft) – Ngồi vào buồng điều khiển
Giới hạn: 1 người sử dụng


Đây là ụ súng cố định của Covenant, người sử dụng chui vào buồng để điều khiển. Trong cả 3 phần đều có kiểu dáng khác nhau, nhưng với công năng thì không thay đổi: sát thương cao, có thể chống chọi lại các phương tiện cơ giới. Đây là thứ vũ khí khá tốt khi dùng để chống chọi lại số đông kẻ thù.

Type-33 Guided Munitions Launcher (Needler)


Chủng loại: Munitions Launcher
Kích thước: 57,8 cm (22,75 in) - Cầm một tay
Khối lượng: 4,3 kg (9,5 lbs)
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 19 viên
Chế độ bắn: Tự động
Đạn: Crystalline Explosive Projectiles
Tốc độ: 8,5 rnds/ s
Vận tốc: 54 m/ s
Chính xác: Cao
Tầm xa: Ngắn đến trung bình


Khẩu này cũng rất nổi tiếng, xuất hiện từ Halo: Combat Evolved. Không sử dụng đạn plasma như các súng khác, Needler sử dụng loại đạn giống như các tinh thể nhưng vô cùng sắc nhọn. Các tinh thể có màu hồng nên khi bắn nhìn chúng rất đẹp nhưng cũng không kém phần đáng sợ.

Type-33 Light Anti-Armor Weapon (Fuel Rod Gun)


Chủng loại: Anti-Armor
Kích thước: 130,2 cm (51,26 in) – Đeo trên vai
Khối lượng: 23,3 kg (52 lbs)
Sát thương: Rất cao
Băng đạn: 5 viên
Chế độ: Bán tự động
Đạn: 3,8 cm explosive ballistic projectiles
Tốc độ: Vừa, 2 rnds/ s
Vận tốc: 72 m/ s
Chính xác: Trung bình
Tầm xa: 165 m


Xuất hiện lần đầu trên Halo: Combat Evolved, nhưng đến Halo 2 thì thiết kế sửa lại. Một khi đã thấy đối phương vác thì hãy chạy đi thật xa. Với sức công phá cao cùng với khả năng bắn lan khiến chúng là một đối thủ đáng gờm.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 10-07-2009, 09:28 AM   #14
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

Type-50 Sniper Rifle System (Beam Rifle)


Chủng loại: Sniper Rifle
Kích thước: 160,5 cm (63,3 in) – Cầm hai tay
Khối lượng: 18 kg (39,6 lbs)
Sát thương: Rất cao
Băng đạn: 100 đơn vị năng lương (18 – 20 phát bắn)
Chế độ: Bán tự động
Đạn: Accelerated Particle Beams
Tốc độ: Vừa
Vận tốc: 3657 m/ s
Chính xác: Rất cao
Tầm xa: 1500 m


Nếu UNSC có Sniper Rifle thì Covenant thì lại có Beam Rifle nhằm bảo đảm cân bằng cho 2 phe. Không kém cạnh Sniper Rifle, Beam Rifle cũng có sức công phá cũng như độ chính xác không hề thua gì. Đa phần súng này được bọn Jackal sử dụng.

Type-51 Carbine (Covenant Carbine)


Chủng loại: Carbine
Kích thước: 122,8 cm (48,3 in) – Cầm hai tay
Khối lượng: 8,8 kg (19,5 lbs)
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 18 viên
Chế độ: Bán tự động
Đạn: 8,7 x 60 mm caseless radioactive projectiles
Tốc độ: Vừa
Vận tốc: 700 m/ s
Chính xác: Cao
Tầm xa: 600 m


Khẩu súng này có thiết kế khá hay. Được các Brutes, Jackals và Elites, có đôi khi các Marine và Combat Form sử dụng. Đây là một khẩu súng thuộc loại khá, chống chọi với loài Flood cũng rất tốt. Khẩu này tương đương như Battle Rifle của UNSC.

Type-52 Directed Energy Support Weapon (Plasma Cannon)


Chủng loại: Portable Plasma Turret
Kích thước: 131,7 cm – Cầm hai tay
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 200 phát bắn (khi cầm tay) và vô hạn (khi gắn trên giá)
Chế độ: Tự động
Đạn: Superheated Plasma
Chính xác: Trung bình
Tầm xa: trung binh


Giống như khẩu Machine Gun Turret của loài người. Với món “đồ chơi” này người chơi có thể cày nát mọi thứ xung quanh. Một vũ khí dành cho những người thích phá tung mọi thứ.

Type-2 Antipersonnel Fragmentation Grenade (Spike Grenade)


Chủng loại: Grenade
Kích thước: 91,4 cm (36 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 1,93 kg (4,25 lbs)
Sát thương: Rất cao
Tốc độ: Phụ thuộc vào lực ném
Tầm xa: Khá


Đây là loại lựu đạn của riêng loài Brute. Ngoài công năng là phát nổ thì các lưỡi móc sắt được gắn lên đó cũng rất lợi hại. Nếu mà đem cái này đi phang đầu thì có nước mà toi đời. Đúng là lựu đạn của loài Brute khi chúng có hình dáng khủng khiếp cũng giống như chính bản chất của bọn Brute.

Type-2 Energy Weapon/Hammer (Gravity Hammer)


Chủng loại: Melee Weapon
Kích thước: Cầm hai tay
Sát thương: Có thể gây chí mạng, gây sát thương diện rộng
Năng lượng: 100 đơn vị năng lượng
Chế độ: Tạo ra chấn động xung kích trọng trường
Tầm xa: Gần


Còn được mọi người gọi là búa trọng trường. Xuất hiện từ Halo 2 nhưng không thể sử dụng được. Đây là vũ khí cận chiến còn tốt hơn cả Energy Sword của loài Elite. Nó có thể đập một phát xuống đất để tạo chấn động đủ để lật ngược các phương tiện khí tài.

__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 10-07-2009, 09:36 AM   #15
Kenny Phung
Chief Petty Officer
 
GT COIN: 2,898

Ngày tham gia: Feb 2008
Địa chỉ: M.I.A.
Bài viết: 2,651
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts
Tổng điểm: 40
- Ðiểm thưởng : 105
- Số lần thưởng điểm : 37
Kenny Phung's Inventory

Default

Type-3 Antipersonnel/Antimatériel Incendiary Grenade (Incendiary Grenade)


Chủng loại: Grenade
Kích thước: 30,5 cm (12 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 3,6 kg (8 lbs)
Sát thương: Rất cao


Một loại lựu đạn mới trong Halo 3. Chúng được loài Brute chuyên sử dụng. Khi nổ có có thể toả nhiệt lên đến 2200 độ C để có món “thịt nướng” chỉ trong giây lát. Không dừng lại ở đó, nó có thể gây thiệt hại mọi thứ trong bán kính 3,4 m. Đây cũng là một vũ khí cho thấy bản chất của loài Brute: tàn bạo.

Type-25 Carbine (Spiker)


Chủng loại: Automatic Carbine
Kích thước: 81,7 cm (32,17 in) – Cầm một tay
Khối lượng: 7 kg (15,5 lbs)
Sát thương: Trung bình
Băng đạn: 40 viên
Chế độ: Tự động
Đạn: Superheated metallic Spikes
Tốc độ: 8 rnds/ s
Vận tốc: 76.2 m/ s
Chính xác: Cao (tầm xa gần) và thấp (tầm xa trung bình)
Tầm xa: 40 m


Được loài Brute sử dụng trong cuộc chiến Human – Covenant. Khẩu súng được thiết kế khá ngầu. Đạn là những cây đinh kim loại sắc nhọn khiến chúng trở nên rất nguy hiểm, súng có tới 2 nòng giúp được bắn nhiều hơn. Cộng thêm đó là cặp đao sắc bén lắp bên dưới súng giúp cho cây súng trở nên toàn diện. Một khi cây súng này mà đã áp sát rồi thì đừng hòng !

Type-25 Grenade Launcher (Brute Shot)


Chủng loại: Grenade Launcher
Kích thước: 183,8 cm (6,03 ft) – Cầm hai tay
Sát thương: Trung bình đến cao
Băng đạn: 6 viên
Chế độ: Bán tự động
Đạn: High Explosive Grenades
Chính xác: Trung bình, cao
Tầm xa: Gần, trung bình


Đây là niềm kiêu hãnh của loài Brute, nhờ nó mà Brute trở thành cơn ác mộng cho đối phương. Đạn là các quả lựu đạn có sức công phá khủng khiếp, cùng với đó là lưỡi dao sắc nhọn gắn ngay phía dưới. Phải công nhận rằng không vũ khí nào của loài Brute mà thiếu phần tàn bạo.

Type-52 Pistol (Mauler)


Kích thước: Cầm một tay
Sát thương: Trung bình, cao
Băng đạn: 5 viên
Tốc độ: Vừa
Chính xác: Thấp đến trung bình
Tầm xa: Ngắn


Được loài Brute mang nhiệm vụ an ninh sử dụng, xem như là một “mini” shotgun. Chỉ thật hiệu quả khi đối đầu với loài Flood hay khi đối phương áp sát. Nếu nhìn đối diện khẩu “mini” này trông giống như một cái nắm đấm.

FORERUNNER

Sentinel Beam


Chủng loại: Directed Energy Weapon
Kích thước: Cầm hai tay
Băng đạn: 100 đơn vị năng lượng
Chế độ: Bắn liên tục
Đạn: Tia màu vàng cam (Minor) và tia màu xanh dương (Major)
Chính xác: Rất cao
Tầm xa: Trung bình đến xa


Đây là vũ khí của người Forerunner dùng để chống lại loài Flood. Nó được gắn trên các Sentinel. Khi các Sentinel bị hạ, có thể lấy nó ra và sử dụng như một vũ khí đắc lực để chống lại loài Flood.

Ðánh giá: Bài viết có nội dung, giá trị
Ði?m: +5
__________________
Thành viên Kenny Phung đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Trả lời

Bookmarks

Công cụ hỗ trợ
Cách hiển thị

Quyền hạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies được Mở
[IMG] code được Mở
HTML code được Tắt

Truy cập nhanh

Tính theo giờ GMT +7, bây giờ là 04:25 AM.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios
Bản quyền thuộc FPT Telecom