Old 18-09-2007, 07:29 PM   #1
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Nền toán học của thế giới nói riêng và Việt Nam nói chung đã có những thành tựu rực rỡ, những công thức và định lý vô giá. Để có được như vậy các nhà toán học xưa và nay đã có những đóng góp lớn lao cùng với niềm say mê toán học vô bờ bến. Vì vậy công lao của họ công lao của họ phải được toàn thế giới trân trọng và gìn giữ. Qua đây chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu tiểu sử của các nhà toán học thời xưa để cùng hiểu thêm và quá trình hình thành môn toán học ^^

Levi ben Gerson


Levi ben Gerson viết quyển “Book of Numbers” năm 1321 về vấn đề các phép tính số học, bao gồm cả phép khai căn các nghiệm.
Năm 1342, ông đã viết “On Sines”, “Chords” và “Arcs”, nghiên cứu về lượng giác, đặc biệt là chứng minh định lý hàm sin dùng cho các tam giác phẳng và đưa ra 5 biểu đồ hình sin. Một năm sau, theo yêu cầu của một giám mục ở Meaux, ông viết quyển “The Harmony of Numbers” bình luận về 5 quyển sách đầu tiên của Euclid.
Ong cũng đã phát minh “Cái gậy của Gia-cốp”, một dụng cụ để đo khoảng cách góc giữa các thiên thể, được mô tả là bao gồm lần quan sát nhật thực của Levi năm 1337. Sau khi quan sát hiện tượng này, ông đã biên soạn một lý thuyết mới về mặt trời mà ông đã tiếp tục kiểm tra bằng các quan sát xa hơn. Ong cũng đã quan sát hiện tượng nguyệt thực vào ngày 3/10/1335. Ong mô tả chuyển động hình học của Mặt Trăng và quan sát thiên văn Mặt Trăng, Mặt Trời và các hành tinh.
Nhiều niềm tin của ông được tin tưởng rộng rãi như niềm tin rằng Dãy Ngân Hà nằm trên một mặt cầu gồm nhiều ngôi sao cố định và phát sáng nhờ ánh sáng phản chiếu của mặt trời. Các tác phẩm khác của ông thuộc về triết học và bình luận về kinh thánh.
Nguồn : vietmaths.com.vn

Leibniz Gottfried


• 1.7.1646: nhà toán học và cũng là nhà triết học ,nhà sử học, nhà luật học, nhà ngoại giao Đức Leibniz Gottfried sinh tại Leipzig (Đức)
• 1661-1664: Ở tuổi 15, cậu bé biết n

hiều ngôn ngữ cổ, nền văn học Hi Lạp , La Tinh và triết học. Cậu đọc nhiều tác phẩm triết học và cậu làm quen với thế giới mới mà các nhà triết học “ tự nhiên” thời đó đã phát minh , nhất là Descartes là người ảnh hưởng đến cậu bé rất nhiều.
• 1666: ở tuổi 20, Leibniz đã sẵn sàng để thi tiến sĩ luật học. Nhưng khoa luật trường Đai học Leipzig không đồng ý cho thi, với lí do anh còn quá trẻ.
• 1667-1671: Leibniz bèn dời thành phố quê hương đến Nuremberg . Ông trở thành nhà v , nhà luật học. Có thể nói ông là một người toàn năng. Ông dễ dàng làm việc ở đâu cũng được. Ông không ngừng đọc , viết và suy nghĩ. Ông đã viết phần lớn các luận văn toán học và cả những công trình đáng lưu ý khác về mọi chuyện của thế giới này hay thế giới bên kia khi ông đi từ nơi này sang nơi khác theo yêu cầu của công việc. Sau đó ít lâu, ông trở thành nhà ngoại giao phục vụ Tuyển Hầu Mayence. Vì vậy, ông có nhiều dịp lưu lải ở Paris.
• 1672-1676:
-1672, ở tuổi 26, trước khi gặp Huygens, Leibniz đã sáng chế ra một máy tính làm được các phép tính cộng, trừ , nhân, chia và khai căn, như vậy là hơn hẳn máy tính của Pascal, chỉ làm được phép tính cộng và trừ. Sau đó, Leibniz yêu cầu Huygens dạy toán cho mình. Leibniz vốn là nhà toán học bẩm sinh. Dưới sự hướng dẫn tận tình của Huygens, thiên tài ông nở rộ. Ong nghiên cứu các công trình của các nhà toán học lớn và của chính Huygens. Trong thời gian đó , ông thu được nhiều kết qua xuất sắc.
- Các buổi học phải tạm dừng từ tháng giêng đến tháng ba năm 1673, vì Leibniz công du đến Luân Đôn, với tư cách là tùy viên phục vụ Tuyển hầu. Trong thời gian đó, Leibniz tham dự những buổi họp của Hội Hoàng gia, giới thiệu máy tính mà ông đã sáng chế và các công trình khác, nhờ đó ông được bầu làm thành viên nước ngoài của Hội Hoàng gia, trước khi ông trở về Paris tháng ba năm 1673.
- Lz và sau đó (1700), Newton là những thành viên nước ngoài đầu tiên của viện Hàn lâm khoa học Paris.
- Phấn khởi trước những gì Leibniz đã làm được ở Luân Đôn, Huygens khuyến khích ông tiếp tục, và Leibniz dành tất cả thời gian rảnh rỗi cho toán học. 1677-1714: ông viết rất nhiều và là trung tâm của những sáng kiến trong giới trí thức Châu Au. Một nhà toán học , nhà triết học, nhà thần học, nhà ngôn ngữ học, nhà sử học, nhà địa lý học.
- 1686: luận văn siêu hình học
- 1699:gia nhập Viện Hàn lâm khoa học Paris
- 1703: tiểu luận mới về lý trí loài người
- 1714: đến Vienne, ông cho ra đời 2 tác phẩm :”Nguyên tắc triết học”, “v
- 14.11.1716: ông qua đời trong cảnh cô đơn ở tuổi 70. Chỉ có Viện Hàn lâm Paris tỏ lòng kính trọng ông : lời khen của Fontenelle năm 1717.
Dù là một nhà phát minh hay một nhà bách khoa, ông đều có những bước phát triẻn tốt. Có một đầu óc khoa học, ông tin rằng dưới sự phát triển của khoa học không chỉ nâng cao đời sống vật chất con người mà còn giúp họ trưởng thành về tình yêu và đạo đức. Leibniz mong muốn đưa khoa học đến với mọi người và đọc cuốn bách khoa toàn thư, “phát minh từ nhũng kiến thức có được và không theo hàng”, đó không chỉ là bản tổng kết kiến thức mà còn là phương tiện để phát triên xa hơn.
Leibniz đã phác thảo tầm rộng của sự tìm kiếm thông tin, từ nguồn gốc toán học và triết học của môn học này cho đến các phép tính, lập luận cơ khí hóa.

CUỘC PHÂN TRANH GIỮA Leibniz và Newton

- Trước khi rời Paris năm 1676 để về Hanovre phục vụ công tước Branswick-Lunebourg, ông thiết lập một số công thức sơ cấp của phép tính vi phân và phát minh ra định lí cơ bản của phép tính vi tích phân về quan hệ giữa đạo hàm và tích phân
- Theo lời của Leibniz thì định lí này được phát minh năm 1675 và không được công ố trước ngày 11/07/1677. 11 năm trước, Newton đã phát minh ra định lí ấy, nhưng ông không công bố ngay, và chỉ khi Leibniz công bố phát minh rồi ông mới công bố. Newton nghĩ rằng Leibniz đã đọc được phát minh ấy trong bản thảo của mình nên ông đòi quyền ưu tiên của sự phát minh về mình.
- Cuộc tranh cãi giữa Leibniz & Newton về quyền ưu tiên của sự phát minh ấy nghiêm trọng nhất khi Leibniz , né tránh một cách ngoại giao, dưới danh nghĩa vô danh của ban bien tập, viết một bài báo phê bình rất nghiêm khắc công trình của Newton , trong tạp chí Acta Eruditorum mà chính Leibniz lập ra năm 1882 và là chủ bút.
- Từ 1677-1704, phép tính vi tích phân của Leibniz phát triển thành một công cụ thực sự có hiệu lực và được áp dụng một cách dễ dàng trên lục địa.Trong lúc đó, ở Anh, vì Newton không thích phổ biến một cách tự do các phát minh của mình nên các phép tính của Newton vẫn ở tình trạng một điều lạ lùng chưa qua thử thách.
Nguồn : vietmaths.com.vn

Ernst Sigismund Fischer


(sinh ngày 12/7/1875 ở Vienna, Uc, mất ngày 14/11/1954 ở Cologne, Đức ).
Ernst Fischer học ở Vienna với thầy Mertens từ năm 1894. Ong ở Berlin năm 1899 và học ở Zurich & Gottingen với Minkowski. Từ 1902, ông là phụ tá của E Waelsch ở trường đại học Brunn ( Brno ngày nay). Sau vài năm thì trở thành giáo sư.
Từ năm 1911 đến năm 1920, Fischer là giáo sư ở Erlanger. Từ 1920, làm việc ở Cologne.
Năm 1907, Erst Fischer nghiên cứu về dãy của hàm số và đưa ra những điều kiện cần thiết và đầy đủ cho một dãy không đổi trở thành hệ số Fourier của một hàm tích phân bình phương , từ đó dẫn đến khái niệm không gian Hilbert. Friesz cũng công bố một kết quả tương tự cùng năm đó.
Định lý Riesz-Fischer là một trong những thành tựu vĩ đại của lý thuyết Lebesgue về tích phân.
Nguồn : vietmaths.com.vn










Chủ đề được xem nhiều nhất tại box:

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 07:55 PM   #2
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Estience de La Roche


(sinh năm 1470 ở Lyon, Pháp & mất năm 1530).

Gia đình của Estience de La Roche sống ở Lyon và sở hữu bất động sản gần thị trấn của Villefranche. Bởi vì nơi ông sống là vùng đất mới, La Roche thỉnh thỏang được nhắc đến là Villefranche.

Ong học tóan từ Chuquet và sở hữu nhiều bản thảo viết tay của Chuquet nên được xem là học trò giỏi của ông. La Roche dạy số học ở Lyon trong 25 năm. Vì được biết đến nhiều như là một giáo viên tóan nên ông còn được gọi là ông thầy của chữ số. La Roche xuất bản quyển “Larismetique” năm 1520, được xem là quyển sách số học xuất sắc với ghi chú đầy đủ về lũy thừa và nghiệm. Năm 1880 Aristide Marre đã xuất bản “Triparty” của Chuquet và người ta phát hiện ra phần đầu của “Larismetique” của La Roche là một bản sao của “Algebra” của Chuquet. Lúc ấy, người ta đã nghĩ La Roche chỉ là một kẻ ăn cắp ý tưởng. Tuy nhiên, các công trình mới về sau của ông đã làm giảm bớt tính gay gắt của kết luận trên.

Ong đã dạy về ngành tóan học quan trọng mà vẫn chưa rộng mở với người Pháp. Còn lại, những công trình của ông là toán học thương mại.
Nguồn : vietmaths.com.vn

Janos Bolyai


(1802- 1860) là một nhà toán học người Hung. Từ khi nghe bố cũng là một nhà toán học xuất sắc, nói về tiên đề về các đường song song của Euclide thì Bolyai không giờ phút nào để cho tâm hồn mình được yên tĩnh. Tiên đề về các đường song song của Euclide đã hai nghìn năm chưa ai chứng minh được: nếu kéo dài hai đường song song ra vô tận thì chúng sẽ gặp nhau, hay ngược lại xa nhau dần? Bài toán đó đã thu hút hết trí lực của Bolyai. Trong một bức thư đẫm nước mắt bố của Bolyai khẩn cầu con đừng để tâm lực vào tiên đề V của Euclide. "Đó không phải là một bài toán mà là một lời nguyền có ma lực của kẻ phù thuỷ! Bố đã mất ăn mất ngủ vì tiên đề đó, bố không muốn con chết dần mòn, tiêu huỷ tuổi thanh xuân vì tiên đề đó không đem lại sự yên tĩnh cho tâm hồn và vinh quang cho cuộc đời con. Bố van con!"


Mặc cho mọi lời khuyên của bố, Janos Bolyai bị cuốn hút bởi tiên đề V của Euclide như bởi một ma lực có thể so sánh với cái ma lực đã cuốn hút Gaughin đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người vùng nhiệt đới.


Cho nên sự đam mê nghệ thuật và khoa học là sự đam mê chung của những thiên tài. Sau khi giải quyết được tiên đề về các đường song song và tìm ra hình học phi Euclide mà không được người đương thời hiểu nổi, lại biết rằng nhà toán học Nga Lobatchevski cũng đã tìm ra hình học này Janos Bolyai chết dần một cách bi thảm.
Nguồn : Bài viết đăng trên báo Tuổi Xanh Tinh Vân số 38+39 ra ngày 15/1/2006

Đêmôcrit


Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hi Lạp cổ đại.
Đêmôcrit sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ Tơraxia, ven bờ phía Bắc của biển Êgiê.

Đêmôcrit là người đầu tiên giải thích cơ cấu của tự nhiên là nguyên tử. Theo ông đó là những hạt nhỏ mà mắt người không thấy được, không thể phân chia được nữa và sự vận động của các hạt là sự vận động của tự nhiên. Ông nói rằng mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là kết quả do sức hấp dẫn của các nguyên tử ảnh hưởng lẫn nhau mà sinh ra. Ông cho rằng mọi biến động trong thế giới vật chất đều là những hiện tượng tự nhiên và hợp với quy luật.

Đêmôcrit đã áp dụng học thuyết nguyên tử của mình vào toán học. Ông cho rằng mọi đại lượng hình học đều gồm những đại lượng - ban đầu là những "nguyên tử hình học". Cống hiến của Đêmôcrit trong lịch sử toán học: ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu vấn đề thể tích và chủ trương sử dụng một phương pháp nghiên cứu toán học, mà sự phát triển tiếp theo của nó đã đưa đến việc sáng lập lý thuyết các đại lượng vô cùng bé.

Đêmôcrit đã có nhiều công trình về khoa học tự nhiên. Luận văn "Về bản chất con người của ông" có những kiến thức giải phẫu sinh lý con người rất có giá trị. Ông đã thu nhập được những tài liệu phong phú về động vật học và thực vật học. Các Mác đánh giá Đêmôcrit là "trí thuệ vạn năng đầu tiên trong những người Hi Lạp".

Đêmôcrit là người không tin có thần thánh. Ông bác bỏ nguồn gốc thần thánh của vũ trụ. Ông cho bản chất của vạn vật là các nguyên tử và các khoảng chân không. Ông cho nguồn gốc của những quan niệm tôn giáo là sự sợ hãi và dốt nát của con người. Đêmôcrit đã giải quyết được những thiếu sót của các nhà duy vật trước ông và đã căn bản phê phán được học thuyết duy tâm cổ đại.
Nguồn : Wikipedia

Georg Cantor


Nói về nhà toán học người Đan Mạch Georg Cantor, người ta luôn ca ngợi trí thông minh tuyệt đỉnh của ông với sự ngưỡng mộ, sùng kính, thậm chí còn đôi chút tôn thờ. Lý thuyết tập hợp của Cantor ra đời cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã giúp ông giải quyết nhanh gọn “nghịch lý Zénon” dựa trên ý tưởng có thể so sánh hai đại lượng vô hạn với nhau....

Quả thật, những suy luận trừu tượng kiểu này dễ khiến người ta phát điên. Và thiên tài Cantor cũng không là ngoại lệ. Về già, ông mắc chứng thần kinh điên loạn, dành trọn những năm cuối đời ngồi tỉ mẩn chứng minh: Chúa trời là một... số vô cực và Francis Bacon đã viết nên những tác phẩm kinh điển của Shakespeare.
Nguồn : dantri.com.vn

Oliver Heaviside


Năm 30 tuổi, kỹ sư cơ khí kiêm nhà toán học người Anh Oliver Heaviside đã đưa ra một phát minh vô cùng quan trọng: biến các phương trình vi phân về dạng số học giản đơn. Không thể diễn tả phát minh này đã ảnh hưởng sâu sắc tới việc nghiên cứu bộ môn vi phân - tích phân như thế nào.

Đáng buồn thay đến những năm cuối cùng của cuộc đời, Heaviside vốn dĩ đã sống lập dị lại càng tỏ ra điên loạn hơn. Ông sơn móng tay bằng màu hồng lòe loẹt - hành động quá sức điên rồ ở những năm 1920, tống tháo tất cả mọi đồ đạc trong nhà ra ngoài đường, thay thế bằng những khối đá granite đủ kích thước và hình thù kỳ dị.
Nguồn : dantri.com.vn

Walter Petryshyn


Năm 1996, cuốn sách về chức năng của hồi quy và tương quan phi tuyến vừa xuất bản thì nhà toán học người Mỹ gốc Ukraina Walter Petryshyn bỗng phát hiện trong đó tồn tại một sai lầm chết người. Áp lực lo sợ bị cộng đồng nghiên cứu dè bỉu nặng nề đã khiến ông hóa điên - theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Sự quẫn trí và hoang tưởng đã đưa đẩy ông đến hành vi mưu sát vợ năm 1997.
Nguồn : dantri.com.vn

Evariste Galois


Có một thực tế đã trở thành chân lý: đã là thiên tài toán học thì không bao giờ xuất sắc trong đấu súng tay đôi. Nhưng dường như chưa ai từng nói điều này cho Evariste Galois - thần đồng toán học người Pháp thế kỷ 19, người đã đóng góp vào ngành số học của nhân loại bằng một lý thuyết nổi tiếng mang chính tên ông (lý thuyết trường Galois).

Tuy nhiên Galois đã không may mắn sống tới lúc tên tuổi được vinh danh. Chàng trai trẻ bỏ mạng trong một cuộc đấu súng khi vừa tròn 20 tuổi. Điều bất thường ở thiên tài này ở chỗ: Ông đã dàn dựng trận đấu y hệt một cuộc phục kích bắt bớ của cảnh sát, với hy vọng cái chết của mình sẽ châm ngòi cho cuộc cách mạng dân chủ sau này.
Nguồn : dantri.com.vn

Ðánh giá: Bài viết có nội dung góp ý xây dựng
Ði?m: +1
Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 08:54 PM   #3
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Các nhà nữ toán học thế giới


Chúng ta được nghe kể chuyện về nhiều nhà toán học , nhưng riêng về các nhà nữ toán học thì chúng ta biết rất ít .

Nhân dịp kỉ niệm ngày phụ nữ quốc tế chúng tôi xin giới thiệu với các bạn tiểu sử ,các công trình nguyên cứu , các hoạt động của một số nhà nữ toán học thế giới .

Nếu tìm hiểu kỉ lịch sử toán học thì ta biết được : Số nhà nữ toán học rất nhiều ,ở nhiều nước,ở các thời đại .

Có thể nói nhà nữ toán học đầu tiên là Ghipachia,người Hi Lạp sống ở thành Alexanđơri từ năm 370 đến năm 415 ,Ghipachia là con nhà khoa học Zêôn Alexanđơriixkii ,Ghipachia nguyên cứu nhiều ngành : Toán học ,thiên văn học ,y học ,triết học . Bà đã viết bình luận về tác phẩm "số học " của Điôphăngtơ và tác phẩm " Thiết diện Conic" của Appôluniút .

Nữa đầu thế kỉ 18 ,ở Pháp có Emilơ đơ Satlơ .Bà đã dịch từ tiếng la tinh sang tiếng mẹ đẻ tác phẩm nổi tiếng của Niutơn " Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên " .Tác phẩm này nguyên cứu về sự hấp dẫn của vũ trụ và những nguyên tắc về cơ học cổ điển .Bản dịch này rất được hoan nghênh và được bổ sung thêm lời bình luận của nhà toán học nổi tiếng người Pháp là A.Klêrô .

Người phụ nữ Pháp thứ hai nguyên cứu nhiều về toán vào thế kỉ 18 là Maria Lanlanđơ .Bà đã cộng tác với chồng và em mình lập nên bảng lượng giác được mang tên là "Bảng Lanlanđơ".

Về phương pháp tính toán thì phải kể đến một người phụ nữ Pháp nữa là Góctenđia Lơpốt .

Ở Ý thì có Maria Goetana Anedi (1718-1799) là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới được phong làm giáo sư toán ở trường đại học .Bà đã viết : " Giáo trình giải thích dành cho thanh niên Ý", trong đó bà đưa phương pháp chứng minh độc đáo về nhiều định lý .Tên bà được vinh dự đặt tên cho một loại đường cong gọi là đường cong Aneđi .

Nhà nữ toán học người Anh là Meri Xômecvin (1780-1872) vẫn thường liên lạc thư từ với các nhà toán học xuất sắc ,trong đó có Galilê,Laplaxơ,Aragô ,....Bà có viết một số sách về thiên văn ,vật lý học và dịch ra tiếng mẹ đẻ tác phẩm nổi tiếng của Laplaxơ về "Cơ học các thiên thể " .Học trò của bà là Aba Bairôn(1815-1852) ,con gái độc nhất của nhà thơ nổi tiếng người Anh Bairôn ,cũng trở thành nhà nữ toán học đặc biệt nguyên cứu về máy tính .

Sang thế kỉ 19 chúng ta chú ý đến 3 nữ toán học: Sôphia Giecmen( 1776 - 1831 ) ,Xôphia Côvailepcaia (1850 - 1891) Emmi Nête ( 1882 - 1935) .

Xôphia Côvalepcaia , nhà nữ toán học người Nga đã có những công trình nguyên cứu quan trọng về lí thuyết các phương trình đạo hàm riêng ,về việc đưa tích phân Aben loại 3 về các tích phân Eliptic ,nguyên cứu và nhận xét ,bổ sung công trình của Laplaxơ về dạng của vành sao Thổ . Với các công trình này bà đã được trường đại học Gớttinghen cấp bằng tiếng sỉ hạng ưu . Ngoài ra bà còn nguyên cứu vật lý và văn học .

Emmi Nête sinh ngày 23-3-1882 ở Alacghen và bảo vệ luận án tại đó năm 1907 . Năm 1916 ,Nête rời về Gơttinghen , thành phố nổi tiếng của nước Đức ,một thời kì được xem là trung tâm toán học .Nête nguyên cứu phương hướng mới về " Đại số đại cương và trừu tượng " từ năm 1920 .

Năm 1922-1923 Nête là giáo sư của trường Đại học Gơttinghen . Nête là nhân vật có sức cảm hoá mọi người ,giao thiệp rất rộng .Trong khoảng 10 năm Nête đã cộng tác chặt chẽ ,có quan hệ hữu nghị với các nhà toán học Xô Viết .Năm 1928 đến 1929 ,bà viết giáo trình cho trường Đại học Maxcơva .Đến năm 1933 ,dưới chính quyền phản động của Hitle ,Nête và một số lớn nhà tiếng học có tiếng tăm của Gơttinghen đã bị thải khỏi các trường Đại học và bị trục xuất ra nước ngoài .

Nête sang Mỹ và mất tại đấy ngày 14-4-1935 .

Nữ nhà toán học Pháp Xôphia Giecmen là ân nhân của nhà toán học Đức vĩ đại Gauxơ (1777- 1855) .

Xôphia hơn Gauxơ một tuổi .Họ không gặp nhau bao giờ và Xôphia đã mất ở Pari trước khi trường Đại học Gớttinghen tặng Xôphia học viện tiến sỉ danh dự do Gauxơ đề nghị cho bà .

Xôphia nguyên cứu nhiều về âm học , lý thuyết toán học về sự đàn hồi ,số học cao cấp .Xôphia đều có công trình quan trọng về các lãnh vực trên .

Khâm phục về tác phẩm "Nguyên cứu về số học " của Gauxơ ,Xôphia thường xuyên liên lạc bằng thư về những nhận xét của mình đối với môn số học . Vì "sợ" rằng Gauxơ ,nhà toán học vĩ đại có thành kiến của xã hội đương thời đối với người phụ nữ nguyên cứu toán chăng (!?) ,nên khi gởi các thư cho Gauxơ ,Xôphia thường kí tên là người đàn ông (M .Lơbơ lăng). Gauxơ nhận các thư này rất coi trọng M.Lơbơlăng mãi sau người ta mới biết là M.Lơbơlăng là tên giả của Xôphia , khi Xôphia có dịp sang Đức để cứu giúp cho Gauxơ .

Lúc ấy quân Pháp đến chiếm Hanôvơrơ mà Gauxơ còn ở đấy .Bà không muốn lịch sử toán học phải ghi một thảm hoạ thứ hai ,bà không muốn Gauxơ bị giết khi quân Pháp đến Hanôvơrơ ; như trước đây Asimet ,nhà toán học cổ Hi Lạp bị quân La Mã giết ở Xiracuyt năm 212 trước công nguyên ; bà đã xin vị đại tướng Pháp tha cho Gauxơ .

Biết như vậy ,Gauxơ rất khâm phục về hành động của Xôphia và ghi nhớ sâu sắc mãi ân huệ ấy .

Trong bức thư ngày 30-4-1907 , Gauxơ cảm ơn Xôphia vô cùng và đặc biệt ca ngợi lí thuyết số của Xôphia .

Qua tiểu sử và cống hiến của Ghipachia ,Côvalepcaia ,Nête ,Giecmen ... chúng ta thấy khả năng của phụ nữ trước đây rất to lớn .

Giai đoạn toán học hiện đại lại càng có nhiều nhà nữ toán học .Ta có thể kể tên một số nhà nữ toán học ngày nay : Ở Ý có Maria Pacxtôri (nguyên cứu về giải tích tenxơ ) và Maria Sicuini Sêbơrariô ( về phương trình vi phân) .

Ở Pháp có Giacơlina Lelông - Phecran ( về lý thuyết hàm phức ) .

Ở Thụy Điển có Xôphia Picarơ( về lý thuyết nhóm) .

Ở Anh có Ghana Nêiman( về lý thuyết nhóm )

Ở Rumani có Vêra Lêpêđép Minlê (lý thuyết hàm )...

Ở Liên Xô gần đây và hiện nay có nhiều nhà toán học nổi tiếng : Nữ giáo sư Pêra Jôsiphôtna Sip và Êcatêrina Alexêepna Narứt - Kina (1895 -1940) , viện sỉ nguyên cứu các vấn đề toán học thực nghiệm với các công trình liên quan đến thuỷ động học và sự thẩm thấu ; nữ giáo sư Nêna Caclôpna Bari (1901-1961) nguyên cứu về lý thuyết thực và các chuổi lượng giác .Liutmina Jnôpxcaia có những công trình nguyên cứu về lịch sử và triết học trong toán học ....

Như vậy chúng ta thấy các nhà nữ toán học thế giới rất nhiều ,ở nhiều thế kỉ .Ngoài toán học họ còn hoạt động ở nhiều ngành khác nữa ( vật lí ,thiên văn , triết học ,văn học...) Riêng trong toán học họ nguyên cứu nhiều ngành khác nhau , ngành nào cũng có phụ nữ nguyên cứu . Tất cả nói lên khả năng to lớn của phụ nữ trong việc nguyên cứu khoa học nói chung và toán học nói riêng .

Dưới chế độ cổ xưa ,chế độ phong kiến và tư bản ,xã hội còn coi thường phụ nữ như cấm phụ nữ học và dạy ở các trường đại học ,không tạo điều kiện cho phụ nữ làm công tác nguyên cứu khoa học .

Nhưng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta,nam nữ được hoàn toàn bình quyền ,bình đẳng .Đảng và chính phủ rất động viên phụ nữ đi sâu vào nguyên cứu khoa học kỉ thuật .

Đó là những điều kiện rất thuận lợi cho phụ nữ chúng ta trong việc học tập,nguyên cứu ,hoạt động khoa học nói chung và toán học nói riêng .

Chỉ cần có một hoài bảo lớn về toán học ,có một quyết tâm cao ,có sự tu dưỡng mạnh mẽ ,các bạn nữ sinh có thể đạt được ước mơ trở thành người nguyên cứu toán học ,góp phần phục vụ tích cực cho tổ quốc, cho nền toán học nước ta.

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 09:02 PM   #4
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Vua toán học Gauss


Gauss được sinh ra tại Braunschweig, thuộc Brunswick-Lüneburg (nay là Hạ Saxony, Đức), con trai duy nhất của một cặp vợ chồng thuộc tầng lớp thấp trong xã hội. Theo giai thoại kể lại, tài năng bẩm sinh của Gauss được phát hiện khi ông mới lên ba, qua việc ông sửa lại lỗi của cha trong tính toán tài chính. Một câu chuyện khác kể rằng khi ông học tiểu học, thầy giáo yêu cầu học sinh tính cộng các số nguyên từ 1 đến 100. Gauss đã trả lời đúng chỉ trong vài giây bằng một cách giải nhanh và độc đáo. Ông nhận thấy việc cộng hai số ở đầu và cuối dãy tạo ra kết quả trung gian giống nhau: 1 + 100 = 101, 2 + 99 = 101, 3 + 98 = 101, và kết quả tổng cộng là 50 × 101 = 5050. Câu chuyện này có nhiều khả năng là chuyện có thật, mặc dù bài toán mà thầy giáo của Gauss đã ra có thể khó hơn như vậy.

Từ năm 1792 đến 1795, Gauss được nhận học bổng của Karl Wilhelm Ferdinand (công tước trong vùng) để vào trường trung học Collegium Carolinum. Từ năm 1795 đến 1798 ông học ở Đại học Göttingen. Trong trường trung học, Gauss khám phá ra một số định lý toán học quan trọng một cách độc lập; năm 1796, Gauss đã có đột phá toán học đầu tiên khi ông chứng minh rằng mọi đa giác đều với số cạnh bằng số nguyên tố Fermat (và, do đó, mọi đa giác đều với số cạnh bằng tích của các số nguyên tố Fermat khác nhau và lũy thừa của 2) đều có thể dựng được bằng compa và thước kẻ. Đây là một khám phá quan trọng trong ngành dựng hình, một bài toán đã làm đau đầu nhiều nhà toán học từ thời Hy Lạp cổ đại. Gauss đã thích thú với kết quả này đến nỗi ông đã yêu cầu khắc lên mộ mình sau này một hình thất thập giác đều. Tuy nhiên người xây mộ đã từ chối, nói rằng khó khăn kỹ thuật sẽ làm cho hình với số cạnh nhiều như vậy trông giống một hình tròn.

Năm 1796 có lẽ là năm chứng kiến nhiều phát kiến của Gauss nhất, chủ yếu cho ngành lý thuyết số. Vào 30 tháng 3 năm đó, ông tìm thấy cách dựng hình thất thập giác. Ông đã tìm ra số học modula, một khám phá giúp cho việc giải toán trong lý thuyết số được đơn giản hóa đi nhiều. Công thức nghịch đảo toàn phương của ông được tìm thấy ngày 8 tháng 4. Định luật khá tổng quát này cho phép các nhà toán học xác định khả năng giải được cho các phương trình bậc hai trong số học modula. Định lý số nguyên tố được Gauss phát biểu ngày 31 tháng 5, cho một cách hiểu thấu đáo về cách sô nguyên tố được phân bố trong dãy số nguyên. Ngày 10 tháng 7, Gauss đã tìm thấy rằng bất cứ số nguyên nào cũng có thể được biểu diễn bằng tổng của tối đa là ba số tam giác; ông đã sung sướng viết trong sổ tay của mình "Heureka! num= Δ + Δ + Δ." Ngày 1 tháng 10, ông cho xuất bản một kết quả về các nghiệm của các đa thức với hệ số trong trường vô hạn, một kết quả đã dẫn đến phát biểu Weil 150 năm sau.
Trong luận văn của ông năm 1799, Gauss đã trở thành người đầu tiên chứng minh định lý cơ bản của đại số. Định lý này nói rằng bất cứ một đa thức trên trường số phức nào cũng đều có ít nhất một nghiệm. Các nhà toán học trước Gauss mới chỉ giả thiết rằng định lý đó là đúng. Gauss đã chứng sự đúng đắn của định lý này một cách chặt chẽ. Trong cuộc đời của mình, ông đã viết ra tới bốn cách chứng minh hoàn toàn khác nhau cho định lý trên, làm sáng tỏ ý nghĩa của số phức.

Năm 1801, Gauss tiếp tục có nhiều cống hiến trong lý thuyết số, tổng kết lại trong quyển Disquisitiones Arithmeticae, một công trình chứa đựng miêu tả gọn gàng về số học modula và cách chứng minh thứ nhất của công thức nghịch đảo toàn phương. Cùng năm này, nhà thiên văn Ý Giuseppe Piazzi tìm thấy thiên thể Ceres, nhưng chỉ kịp thấy nó trong vài tháng. Gauss đã tiên đoán chính xác vị trí mà thiên thể này sẽ được tìm lại, và tiên đoán này được khẳng định bởi quan sát của Franz Xaver von Zach ở thị trấn Gotha vào ngày 31 tháng 12, 1801, và bởi Heinrich Wilhelm Matthäus Olbers ở Bremen một ngày sau đó. Zach đã ghi lại "nếu không có công trình trí tuệ và tính toán của tiến sĩ Gauss chúng ta đã có thể không tìm lại Ceres được nữa." Vào thời điểm này Gauss tuy vẫn nhận lương của Công tước, ông ngờ rằng sự dàn xếp này không được bảo đảm, mặt khác cho rằng công sức của ông đối với toán học thuần túy không xứng đáng được chu cấp như vậy. Vì thế, ông đã tìm việc trong ngành thiên văn học, và vào năm 1807 được giữ cương vị Giáo sư Thiên văn và Giám đốc đài thiên văn ở Göttingen. Ông đã làm việc với chức vị này trong suốt phần còn lại của cuộc đời.

Sự khám phá ra Ceres của Giuseppe Piazzi ngày 1 tháng 1 năm 1801 đã giúp Gauss chuyển hướng nghiên cứu sang lý thuyết về chuyển động của các tiểu hành tinh, bị nhiễu loạn bởi các hành tinh lớn hơn. Các công trình của ông trong lĩnh vực này đã được xuất bản năm 1809 dưới tên Theoria motus corporum coelestium in sectionibus conicis solem ambientum (lý thuyết về chuyển động của các thiên thể trong quỹ đạo mặt cắt hình nón quanh Mặt Trời). Piazzi chỉ quan sát được Ceres trong vài tháng, khi thiên thể này di chuyển khoảng vài độ trên bầu trời. Sau đó thiên thể này chói lòa bởi ánh sáng Mặt Trời. Vài tháng sau, khi Ceres đã ló ra khỏi vùng ảnh hưởng của ánh sáng Mặt Trời, Piazzi đã không tìm thấy nó: các công cụ toán học thời đó không đủ chính xác để giúp ông tiên đoán trước vị trí thiên thể này từ các dữ liệu ít ỏi đã quan sát được –1% của toàn bộ quỹ đạo.

Gauss, lúc đó ở tuổi 23, đã được nghe về bài toán này và lập tức giải quyết nó. Sau ba tháng làm việc miệt mài, ông đã tiên đoán vị trí của Ceres vào tháng 12 năm 1801 – khoảng 1 năm sau khi thiên thể này được nhìn thấy lần đầu – và tính toán này đã được kiểm chứng lại cho thấy sai số nhỏ hơn nửa độ. Các công trình của ông đã trở thành công cụ tính toán quan trọng cho thiên văn học thời này. Ông đã giới thiệu hằng số hấp dẫn Gauss và hoàn chỉnh phương pháp bình phương tối thiểu, một phương pháp dùng cho hầu như một ngành khoa học ngày nay khi giảm thiểu sai số đo. Gauss đã chứng minh chặt chẽ giả định về sai số theo phân bố Gauss (xem định lý Gauss-Markov). Phương pháp này đã được Adrien-Marie Legendre dùng vào năm 1805, nhưng Gauss nói ông đã dùng nó từ năm 1795.

Cuối thập niên 1810, Gauss được mời thực hiện các nghiện cứu trắc địa cho bang Hannover để liên kết với mạng lưới Đan Mạch. Gauss vui lòng chấp nhận và tham gia, đo đạc vào ban ngày và xử lý kết quả vào ban đêm, sử dụng khả năng tính toán phi thường của ông. Ông thường viết cho Heinrich Christian Schumacher, Heinrich Wilhelm Matthäus Olbers và Friedrich Bessel, nói về tiến trình đo đạc và các vấn đề. Trong cuộc điều tra trắc địa này, Gauss đã phát minh máy heliotrope (?) sử dụng hệ thống gương để phản chiếu ánh sáng Mặt Trời vào kính viễn vọng phục vụ đo đạc chính xác.

Gauss cũng đã tuyên bố khám phá ra hình học phi Euclide nhưng ông chưa bao giờ xuất bản các công trình về vấn đề này. Khám phá này đã là một cuộc cách mạng trong tư duy toán học đương thời, giải phóng các nhà toán học khỏi giả thuyết rằng các tiên đề Euclide là cách duy nhất để xây dựng hình học không tự mâu thuẫn. Các nghiên cứu về hình học này, cùng với các ý tưởng khác, đã dẫn đến lý thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, miêu tả vũ trụ trong hình học phi Euclide. Farkas Bolyai, một bạn của Gauss, người mà Gauss đã thề làm "anh em kết nghĩa" khi còn là sinh viên, đã thử chứng minh định đề song song từ các tiên đề Euclide mà không thành công. Con trai của Bolyai, Janos Bolyai, khám phá ra hình học phi Euclide năm 1829 và xuất bản công trình này năm 1832. Sau khi nhìn thấy xuất bản của Janos Bolyai, Gauss đã viết cho Farkas Bolyai: "Nếu khen công trình này thì tức là tự khen tôi. Toàn bộ nó ... trùng hoàn toàn với những gì tôi nghĩ trong suốt ba mươi đến ba mươi nhăm năm qua." Câu nói khó kiểm chứng này đã gây căng thẳng trong quan hệ với János Bolyai (người đã nghĩ rằng Gauss đã "ăn cắp" ý tưởng của ông).

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 09:05 PM   #5
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Cuộc thăm dò địa trắc ở Hannover đã dẫn Gauss đến khám phá ra phân bố Gaussian dùng trong miêu tả sai số phép đo. Nó cũng dẫn ông đến một lĩnh vực mới là hình học vi phân, một phân ngành toán học làm việc với các đường cong và bề mặt. Ông đã tìm thấy một định lý quan trọng cho ngành này, theorema egregrium xây dựng một tính chất quan trọng cho khái niệm về độ cong. Một cách nôm na, định lý nói rằng độ cong của một bề mặt có thể được đo hoàn toàn bởi góc và khoảng cách trên bề mặt đó; nghĩa là, độ cong hoàn toàn không phụ thuộc vào việc bề mặt trông như thế nào trong không gian (ba chiều) bao quanh.
Năm 1831 Gauss đã có hợp tác hiệu quả với nhà vật lý học Wilhelm Weber; hai ông đã cho ra nhiều kết quả mới trong lĩnh vực từ học (trong đó có việc biểu diễn đơn vị từ học theo khối lượng, độ dài và thời gian) và sự khám phá ra định luật Kirchhoff trong điện học. Gauss và Weber đã lắp đặt được máy điện toán điện từ đầu tiên vào năm 1833, liên lạc thông tin từ đài thiên văn về viện vật lý ở Göttingen. Gauss đã cho xây một trạm quan sát từ học trong khu vườn của đài thiên văn và cùng Weber thành lập "câu lạc bộ từ học" (magnetischer Verein), phục vụ việc đo đạc từ trường Trái Đất tại nhiều nơi trên thế giới. Ông đã sáng chế ra một phương pháp đo thành phần nằm ngang của từ trường, một phương pháp được tiếp tục ứng dụng sau đó cho đến tận nửa đầu thế kỷ 20, và tìm ra một lý thuyết toán học cho việc định vị các nguồn từ trường trong lòng Trái Đất (tách biệt nguồn do lõi và vỏ Trái Đất với nguồn do từ quyển hành tinh này.

Gauss mất ở Göttingen, Hannover (nay thuộc Hạ Saxony, Đức) năm 1855 và được chôn cất tại nghĩa trang Albanifriedhof. Bộ não của ông được bảo quản và nghiên cứu bởi Robert Heinrich Wagner; nó nặng 1.492 gam và có diện tích vỏ não rộng 219.588 xentimét vuông. Trên vỏ não cũng tìm thấy nhiều nếp cuộn, một đặc điểm được nhiều người vào đầu thế kỷ 20 cho là lời giải thích cho trí tuệ đặc biệt của ông (Dunnington, 1927). Tuy nhiên, ngày nay môn não học này được cho là giả khoa học.

Cuộc sống riêng tư của Gauss đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái chết của người vợ đầu tiên, Johanna Osthoff, vào năm 1809, và của một đứa con, Louis, ít lâu sau. Ông lập gia đình lần thứ hai với Friederica Wilhelmine Waldeck (thường gọi là Minna), một người bạn gái của vợ cũ, nhưng Minna lại mất vào năm 1831 sau một thời gian dài đau ốm. Từ đó người con gái Therese của ông phải chăm lo cho gia đình cho đến khi ông mất. Mẹ của Gauss cũng sống trong cùng mái nhà từ năm 1812 đến khi bà mất vào năm 1839.

Gauss có sáu người con. Với người vợ thứ nhất, Johanna (1780-1809), các con là Joseph (1806-1873), Wilhelmina (1808-1846) và Louis (1809-1810); trong số đó Wilhelmina được coi là có có trí tuệ giống cha nhất nhưng cô lại mất sớm. Với người vợ thứ hai, Minna Waldeck, ông cũng có ba con: Eugen (1811-1896), Wilhelm (1813-1879) và Therese (1816-1864).

Gauss là người cuồng nhiệt theo chủ nghĩa hoàn hảo và một người lao động cần cù. Có giai thoại kể rằng một lần, lúc Gauss đang giải một bài toán, có người đến báo với ông rằng vợ ông sắp mất. Ông đã nói "Bảo cô ấy đợi chút cho đến lúc tôi xong việc". Ông không phải là người xuất bản nhiều tác phẩm khoa học, từ chối việc đăng các công trình của ông khi chúng chưa được ông cho là hoàn hảo hay còn nằm trong tranh luận. Khẩu hiệu của ông là pauca sed matura (ít, nhưng chín chắn). Một nghiên cứu nhật lý của ông cho thấy ông đã khám phá ra nhiều khái niệm toán học quan trọng nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ trước khi chúng được xuất bản bởi các đồng nghiệp đương thời. Một nhà viết lịch sử toán học, Eric Temple Bell, ước đoán rằng nếu Gauss xuất bản hết mọi công trình của ông, toán học đã có thể tiến nhanh hơn 50 năm. (Bell, 1937.)

Một phê bình khác về Gauss là ông không hỗ trợ các nhà toán học trẻ tiếp bước ông. Ông rất hiếm khi hợp tác với các nhà toán học khác và bị nhiều người cảm thấy tách biệt và khắt khe. Mặc dù ông có một số học trò, Gauss có vẻ không thích dạy học (có người nói ông chỉ dự duy nhất một hội thảo khoa học, ở Berlin năm 1828). Tuy nhiên, một số học trò của ông sau này cũng trở thành các nhà toán học lớn, như Richard De***ind và Bernhard Riemann.

Gauss là người theo đạo và bảo thủ. Ông ủng hộ hoàng gia và chống lại Napoleon Bonaparte người mà ông cho rằng là sản phẩm của cách mạng.

Từ 1989 đến 2001, hình của ông cùng với biểu đồ phân bố Gauss được in trên tờ tiền giấy 10 mark Đức. Đức cũng đã in 3 con tem kỷ niệm về Gauss. Con tem số 725, phát hành năm 1955 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Gauss; hai tem khác, số 1246 và 1811, được phát hành năm 1977, kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông.

G. Waldo Dunnington, một học trò lâu năm của Gauss, đã viết nhiều về Gauss trong: Carl Frederick Gauss: Titan of Science. (Carl Frederick Gauss: Người khổng lồ về Khoa học). Quyển này được tái bản năm 2003.

Hố Gauss trên bề mặt Mặt Trăng và tiểu hành tinh 1001 Gaussia đều được đặt tên để ghi công ông.

Cuộc thi toán hằng năm tổ chức bởi Đại học Waterloo cho các học sinh trung học tại Canada được đặt tên theo Gauss.
Nguồn : Wikipedia

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 10:37 PM   #6
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

R. Descartes- Người sáng lập ra hình học giải tích


Sinh tại La Haye, Touraine (trước đây là một tỉnh, nay gọi là một vùng của Pháp), Descartes là con của một gia đình quý tộc nhỏ, có truyền thống khoa bảng. Lên tám tuổi, ông được gửi theo học tại trường học của dòng Tên tại La Flèche ở Anjou, ông học ở đây suốt 8 năm. Bên cạnh những môn học cổ điển, Descartes còn học toán ở các thầy theo trường phái Kinh viện, một học phái chủ trương dùng lý luận của loài người để hiểu lý thuyết Ky tô giáo. Thiên Chúa giáo La Mã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến suốt cuộc đời Descartes. Sau khi ra trường, ông theo học luật tại Đại học Poitiers, tốt nghiệp năm 1616. Tuy vậy, ông chưa hề hành nghề luật; năm 1618 ông phục vụ cho Hoàng tử Maurice de Nassau, nhà lãnh đạo của Liên hiệp các tỉnh Hà Lan, với ý định theo đuổi một cuộc đời binh nghiệp. Những năm tiếp theo, Descartes phục vụ các quân đội khác, nhưng ông đã bắt đầu tập trung vào toán học và triết học. Ông hành hương sang đất Ý từ năm 1623 đến 1624, sau đó từ 1624 đến 1628, ông ở Pháp. Trong thời gian ở Pháp, Descartes chuyên tâm nghiên cứu triết học và làm các thí nghiệm về quang học. Năm 1628, sau khi bán hết tài sản ở Pháp, ông chuyển sang sống ở Hà Lan, và sống hầu hết quãng đời còn lại ở xứ hoa tuylip. Descartes sống ở nhiều thành phố khác nhau của Hà Lan, như Amsterdam, Deventer, Utrecht, và Leiden.

Dường như trong năm đầu tiên ở Hà Lan, Descartes đã viết tác phẩm lớn đầu tiên, Essais philosophiques (Các tiểu luận triết học), xuất bản năm 1637. Tác phẩm gồm bốn phần: một tiểu luận về hình học, một về quang học, phần thứ ba về sao băng, và Discours de la méthode (Bàn luận về phương pháp), trong đó ông trình bày các nghiên cứu triết học của mình. Sau đó lần lượt ra đời các tác phẩm khác, có thể kể ra Meditationes de Prima Philosophia (Suy ngẫm về Triết học Tiên khởi, năm 1641, viết lại năm 1642) và Principia Philosophiae (Các nguyên lý triết học, năm 1644). Cuốn sau này ông dành tặng cho Công chúa Elizabeth Stuart xứ Bohemia, một người bạn thân thiết của ông ở Hà Lan. Năm 1649 Nữ Hoàng Christina nước Thụy Điển mời Descartes đến giảng dạy cho bà về triết học tại triều đình ở Stockholm. Cái lạnh khắc nghiệt của xứ Bắc Âu đã làm ông mắc bệnh viêm phổi và qua đời năm 1650.

Sau khi ông mất, giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã đã liệt các tác phẩm của ông vào danh sách những sách cấm.
Đóng góp quan trọng nhất của Descartes với toán học là việc hệ thống hóa hình học giải tích, hệ các trục tọa độ vuông góc được mang tên ông. Ông là nhà toán học đầu tiên phân loại các đường cong dựa theo tính chất của các phương trình tạo nên chúng. Ông cũng có những đóng góp vào lý thuyết về các đẳng thức. Descartes cũng là người đầu tiên dùng các chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái để chỉ các ẩn số và dùng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái để chỉ các giá trị đã biết. Ông cũng đã sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số (chẳng hạn trong biểu thức x²). Mặc khác, chính ông đã thiết lập ra phương pháp, gọi là phương pháp dấu hiệu Descartes, để tìm số nghiệm âm, dương của bất cứ phương trình đại số nào.
Nguồn : Internet

Archimedes (287-212)


Archimedes là nhà bác học vĩ đại thời cổ Hy Lạp và là một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại. Ông sinh ra tại Syracuse ( Hy Lạp ), đảo Sicilia ( nay thuộc nước Ý) , con trai của một nhà thiên văn học. Thời bấy giờ các gia đình giàu sang thường tạo điều kiện cho con cái có nền học vấn toàn diện mà trọng tâm là triết học và văn chương, còn toán học thì được xem là môn phụ. Thường họ chỉ học toán vì toán cần cho triết học. Gia đình của ông lại khác, bố ông cho ông sang Alexandria để học sâu về toán học và thiên văn học là những lĩnh vực mà sau này Archimedes có những sáng tạo vĩ đại nhất.

Các công trình của Archimedes là những tác phẩm lớn về toán học giống như những bài báo khoa học ngày nay với tầm khái quát đặc sắc và hiện đại . Chúng được viết một cách cẩn thận, trau chuốt, gãy gọn, đầy tính sáng tạo và rất khéo léo trong tính toán và chặt chẽ trong chứng minh. Khoảng mười luận văn còn lưu giữ cho đến nay như: Đo lường hình tròn, Cầu phương parabol, Về các đường xoắn ốc, Về hình cầu và hình trụ, Về conoid và phỏng cầu, Bàn tính cát, Về các cân bằng phẳng, Về các vật thể nổi ..và có nhiều tác phẩm khác đã bị thất lạc như một tiểu luận về số học, một số luận văn về vật lý toán, tác phẩm " Phương pháp " nói về các thông tin liên quan đến cách mà Archimedes dùng để khám phá ra nhiều định lý của ông .

Từ các công trình của Archimedes, ta thấy rằng ông đã có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển của toán học. Ông đã phát hiện ra cách biểu diễn một số bất kỳ, đưa ra cách tính số . Ông tính được diện tích nhiều hình kể cả những hình giới hạn bởi đường cong, tính được thể tích của nhiều vật thể bằng một phương pháp rất đặc biệt, ngày nay gọi là phép tính tích phân, một bộ phận quan trọng của toán học hiện đại. Về mặt này ông đã đi trước thời đại hàng 20 thế kỷ, vì mãi đến thế kỷ XVII phép tính vi tích phân mới thật sự hình thành và phát triển với Newton và Leipniz.

Ông có những cống hiến lớn lao trong cơ học và thuỷ tĩnh học như sáng chế ra đòn bẩy, bánh xe răng cưa, đinh vít, bộ ròng rọc. Ông tìm ra lý thuyết về đòn bẩy và lý thuyết về trọng tâm. Ông tìm ra định luật về lực đẩy của chất lỏng ( định luật Archimedes) .

Ông không chỉ nghiên cứu điều kiện nổi của các vật mà còn nghiên cứu tính bền vững của sự cân bằng các vật nổi có hình dạng khác nhau. Đó là vấn đề rất cần cho kỹ thuật đóng tàu biển mà mãi đến thế kỷ 20 mới được phát triển và chứng minh chính xác.

Archimedes còn là nhà kỹ thuật đại tài. Với những kiến thức của mình, Archimedes còn tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Ông đã sáng chế ra nhiều vũ khí độc đáo như máy phóng đá, cần cẩu móc nhận chìm tàu chiến, kính hội tụ để đốt cháy tàu chiến.

Có nhiều giai thoại về Archimedes. Khi phát hiện ra qui tắc biểu diễn một số bất kỳ, Archimedes hô lên rằng " Tôi có thể đếm được tất cả các hạt cát trong vũ trụ .", hay khi phát hiện ra quy luật về đòn bẩy ông tuyên bố " Cho tôi một điểm tựa, tôi có thể làm cho trái đất dịch chuyển ." Và cũng có câu chuyện rằng Archimedes được vua Hieron của Syracuse giao cho kiểm tra chiếc vương miện bằng vàng có bị pha bạc hay không. Suy nghĩ mãi mà không tìm ra giải pháp thì một hôm ông đi tắm, khi thả người vào bồn nước ông thấy như có một lực nào đó đấy lên và đồng thời có một lượt nước tràn ra khỏi bồn tắm. Ông sung sướng và quên tất cả vài điều cần thiết, chạy ra phố la to " Eureka !" ( Tìm ra rồi). Đó là lúc ông tìm ra nguyên lý vật nổi.
Nguồn : Wikipedia

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 18-09-2007, 10:45 PM   #7
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

DIOPHANTUS ( khoảng 250 sau công nguyên)


Diophantus có đóng góp to lớn trong sự phát triển của đại số học và cũng có rất nhiều ảnh hưởng đến các lý thuyết số sau này của châu Âu .Người ta biết rất ít về ông, ngoài sự kiện là ông đã thành đạt ở Alexandria.

Diophantus viết ba công trình : "Arithmetica",đó là công trình quan trọng nhất của ông và hiện còn giữ 6 trong 13 quyển, "Về các số đa giác "chỉ còn giữ lại được một vài đoạn, và "Porisms" đã bị thất lạc .

"Arithmetica " là một luận văn phân tích về lý thuyết đại số về số và cho thấy tác giả là một thiên tài trong lĩnh vực này .

Diophantus đã đưa ra số âm và ký hiệu chữ. Ông đã đặt ra và giải nhiều bài toán dẫn đến các phương trình xác định và bất định. Công trình của ông về lý thuyết số đã đặt cơ sở cho những nghiên cứu sau này của Fermat và Euler. Các phương trình Diophantus là các phương trình đại số với hệ số hữu tỉ, có nghiệm dưới dạng số nguyên và số hữu tỉ. Giải tích Diophantus ( hay hình học Diophantus ) là lĩnh vực toán học nghiên cứu phương trình Diophantus dựa trên phương pháp hình học đại số. Phép tính Diophantus là một ngành lý thuyết số trong đó nghiên cứu sự gần bằng không các giá trị hàm số từ các đối số.
Nguồn : Internet

HERON ( thế kỷ I -II sau công nguyên)


Heron là nhà toán học và vật lý vùng Alexandria, không biết ngày sinh và ngày mất. Các công trình của ông về các chủ đề về toán học và vật lý học thì quá phong phú về nội dung cũng như nhiều về số lượng tới mức mà người ta thường xem ông là một tác gia bách khoa trong lĩnh vực này. Có những lý do giả định rằng ông là một người Ai Cập được huấn luyện theo kiểu Hy Lạp. Trong mọi luận văn của ông thường nhắm đến tính hữu dụng thực tiễn hơn là tính hoàn chỉnh về lý thuyết, điều đó cho thấy có sự pha trộn giữa Hy Lạp và phương Đông. Ông quan tâm đến việc xây dựng một nền móng khoa học cho kỹ thuật và cho trắc địa .

Các công trình của Héron có thể chia thành hai lớp : hình học ( công trình Metrica) và cơ học. Các công trình về hình học nói đến các vấn đề đo lường còn các công trình về cơ học thì mô tả các thiết bị cơ học rất khéo léo ( công trình Pneumatica, Dioptra và Catotrica)

Công trình quan trọng nhất của Heron là "Metrica" về hình học gồm ba quyển và được tìm thấy ở Constantinple bởi R. Schone vào năm 1896. Quyển I nói về việc đo diện tích của hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình thang, các tứ giác đặc biệt khác nhau, các đa giác đều , vòng tròn và các cung tròn, ellip, diện tích các hình trụ, hình nón, hình cầu và đới cầu .Trong tác phẩm này, Heron đã rút ra được một công thức nổi tiếng để tính diện tích một tam giác theo ba cạnh S=trong đó p=(a+b+c)/2. Heron còn đưa ra cách tính xấp xỉ về căn bậc hai của một số nguyên không chính phương. Quyển II của Metrica nói về cách tính thể tích các hình nón, trụ, hình hộp, hình lăng trụ, hình chóp, hình nón cụt, hình cầu, các đới cầu .. Quyển III nói về cách chia một số diện tích và thể tích các thành phần theo các tỉ số cho trước.
Nguồn : Wikipedia

Galois


Sinh ra tại Gourg-la-Reine năm 1811- Mất tại Paris năm 1832.
Ông là một nhà toán học kỳ diệu.Kỳ diệu về các phát minh Toán học và cũng kỳ diệu về cuộc đời. Năm 12 tuổi, ông được mẹ đưa vào học ở trường LOUIS-DE-GRAND trường học nổi tiếng nhất nước Pháp thời bấy giờ, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó ông đã bị đuổi khỏi trường do không chịu … hát thánh ca. Năm 15 tuổi ông say sưa với Toán, đọc sách Toán đến đâu ông hiểu đến đó, dễ hiểu như tiểu thuyết vậy!! Tuy thông minh như vậy nhưng Galois luôn bị chê là không nghiêm túc và tự phụ. Hai lần ông thi vào Đại học Báck khoa thì đều bị đánh trượt. Năm 17 tuổi, ông được nhận vào học tại trường Cao đẳng Sư phạm. Một trong những giáo sư của Galois là M.Richard hiểu được năng khiếu bẩm sinh của Galois nên khuyến khích ông tiếp tục suy nghĩ. Galois định công bố những kết quả về phương trình đa thức và mong có một nhà Toán học nổi tiếngđể ý đến, nhưng vào lúc đó, Cauchy cũng đang xem xét chủ đề tương tự, nên ông không thèm đoái hoài gì đến Galois. Poison thì cho rằng công trình của Galois khó hiểu. Fourier thì qua đời trước khi nhận kết quả của Galois. 1830, Galois tham gia các hoạt động chống đối triều đình, kết quả là phải vào tù mấy tháng. Năm sau đó, ông tham gia vào một trận đấu gươm và thiệt mạng (hơi lãng xẹt!!), để lại một mớ giấy lộn xộn ông viết trước lúc đấu gươm. Những tờ giấy của Galois được công bố vào năm 1846, nhưng mãi đến 1866 mới có người hiểu được những gì Galois viết. Những lời bình và giải thích cặn kẽ đầu tiên xuất hiện trong “Giáo trình Đại số cao cấp” của Serret và thực sự đầy đủ trong “Nghiên cứu các phép thế” của Jordan. Sự sáng tạo của Galois dự trên các ý tưởng của Lagrange. Ông quan tâm đến những phép thế trên các nghiệm của một phương trình và đưa ra định nghĩa tích của 2 phép thế. Lúc này chưa có ai đưa ra khái niệm về nhóm, vành, trường nên Galois phải sử dụng cách diễn đạt riêng, vì vậy không ai hiểu được. Galois thiết lập mối quan hệ giữa các nghiệm của một phương trình đại số với số nguyên và lặp lại quá trình đó trên “trường gãy”, và ông là người đã chứng minh được điều kiện cần và đủ để một phương trình đại số giải được bằng căn thức. Để đi đế kết quả này, Galois đã đưa ra khái niệm Nhóm con phân biệt, Phép đẳng cấu nhóm, nhóm thương…(ai học Đại số Đại cương sẽ biết những khái niệm này). Galois ước đoán một nhóm đơn nhỏ nhất mà bậc không phải số nguyên tố có đến 60 phần tử.
Ông là một nhà Toán học thiên tài, nhưng chỉ được công nhận là thiên tài khi đã chết! Có người cho rằng nếu không phải chết trẻ, ông chắc sẽ có nhiều sáng tạo tuyệt vời và hiếm thấy nữa cho nền Toán học thế giới.
Những lời mà Galois uỷ thác cho bạn mình nói lại sau khi viết những trang giấy trước lúc đấu kiếm nói lên tính cách của Galois: “Bạn hãy nhờ công khai Jacobi và Gauss cho ý kiến về kết quả nghiên cứu của tớ, nhưng không phải là xem xét xem nó đúng hay sai mà là phát biểu xem những định lý của mình qua trọng đến mức nào! Mình hy vọng sẽ có nhiều người hiểu được và tận dụng tốt những tờ giấy lộn xộn này. Ôm hôn bạn”.
Nguồn : Internet

Apollonius (262-180)


Apollonius sinh tại Perga, miền nam Tiểu Á. Thuở nhỏ ông sang Alexandria và học toán với các học trò của Euclid.

Apollonius là một nhà thiên văn nổi tiếng, ông lập nên lý thuyết về chuyển động của mặt trăng và để lại những bảng tính toán giúp tính vị trí của mặt trời và mặt trăng trong thời gian nhật thực và nguyệt thực.

Apollonius là một nhà hình học nổi tiếng với tác phẩm " Các thiết diện conic". Khác với các nhà toán học trược đó coi parabol và elip như thiết diện của conic tròn xoay, Apollonius đã biểu diễn chúng như những thiết diện phẳng tuỳ ý của một đường bậc hai bất kỳ. Ông đã tìm ra phương trình = px đối với parabol, ngày nay ta gọi là phương trình chính tắc của parabol trong đó p là tham số tiêu. Trong công trình Các thiết diện conic ông đã sử dụng đại số hình học khi nghiên cứu các tính chất của thiết diện conic, đường kính, tiêu cự, pháp tuyến và tiếp tuyến của chúng. Ông cũng đã sử dụng các phương pháp hình học xạ ảnh ( chiếu ). Ông đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển hình học, thiên văn học và cơ học.
Nguồn : Wikipedia

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 09:59 AM   #8
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Pytago (570 - 500 TCN)


Pytago sinh ra ở Xamôt, một hòn đảo lớn nằm ở ngoài khơi biển Êgiê, cách bờ biển Tiểu Á không xa. Hồi trẻ, ông đi Ai Cập Babilon và ở lại các nước đó 12 năm trời để học tập toán và thiên văn học. Khi trở về nước, thấy sống không phù hợp với phe dân chủ đang nắm chính quyền, ông di cư sang thành phố Crôtôn (Nam Italia), rồi sang đảo Xixilia. Ở đây, ông đã chiêu tập học sinh và tổ chức ra trường phái Pytago. Trường phái này đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của toán học và thiên văn học.

Pytago được mệnh danh là "người thầy của các con số". "Con số" của Pytago chính là toán học ngày nay. Ông không để lại một công trình viết nào. Ngoài định lý về đường huyền mang tên ông (thực ra định lý này đã được người Babilon khám phá ra trước ông một nghìn năm), người ta đã gán cho ông phát minh những định lý về tổng số các góc của tam giác, về hình đa giác đều, mở đầu việc tính những tỉ lệ... Pytago còn có những nhận thức đúng đắn về mặt thiên văn học như cho Trái Đất hình tròn và chuyển động theo một quỹ đạo nhất định (học thuyết của ông về sau được nhà thiên văn học BaLan Côpecnich tiếp thu và phát triển).

Về mặt khoa học học, Pytago và học trò của ông đạt được nhiều thành tựu, nhưng về mặt tư tưởng chính trị của ông lại là phản động. Pytago coi những con số là nguyên tố và nguồn gốc của mọi vật và nâng toán học thành một tín ngưỡng. Chẳng hạn ông cho một số chữ số mang lại thành công, mang lại điều tốt lành, một số chữ số khác lại mang lại tai nạn, rủi ro. Pytago và các học trò của ông coi tinh thần cũng là con số. Nó bất tử và được truyền từ người này sang người khác. Việc đề cao vai trò của con số, tuyệt đối hóa nó như cơ sở của thế giới và của sự vận động, tách rời con số khỏi thực tế vật chất đã đưa trường phái Pytago đến chủ nghĩa duy tâm, phục vụ cho tôn giáo.
Nguồn : danangpt.vnn.vn

Fermat - Nhà toán học vĩ đại không theo nghề toán


Nhắc đến Fermat, người ta thường nói rằng đó là một nhà toán học vĩ đại. Song chính ông lại không lấy đó làm nghề chính thức.

Tiểu sử nhà toán học người Pháp (1601-1665) cho biết ông xuất thân từ gia đình thương nhân khá giả. Fermat học ở Toulouse và lấy bằng cử nhân luật dân sự rồi làm chánh án.

Chỉ trừ gia đình và bạn bè tâm giao, chẳng ai biết ông vô cùng say mê toán. Mãi sau khi Pierre de Fermat mất, người con trai mới in dần các công trình của cha kể từ năm 1670. Năm 1896, hầu hết các tác phẩm của Fermat được ấn hành thành 4 tập dày. Qua đó, người đời vô cùng ngạc nhiên và khâm phục trước sức đóng góp dồi dào của ông. Chính ông là người sáng lập lý thuyết số hiện đại, trong đó có 2 định lý nổi bật: định lý nhỏ Fermat và định lý lớn Fermat.

Trong hình học, ông phát triển phương pháp tọa độ, lập phương trình đường thẳng và các đường cong bậc hai rồi chứng minh rằng các đường cong nọ chính là các thiết diện cônic. Trong giải tích, ông nêu các quy tắc lấy đạo hàm của hàm mũ với số mũ tỷ bất kỳ, tìm cực trị, tính tích phân những hàm mũ với số mũ phân số và số mũ âm. Nguyên lý Fermat về truyền sáng lại là một định luật quan trọng của quang học.

Dù hoạt động khoa học kiên trì và giàu nhiệt huyết, đem lại nhiều thành quả to lớn như vậy, nhưng éo le thay, Pierre de Fermat bình sinh chẳng thể lấy việc nghiên cứu toán làm nghề chính thức.
Nguồn : Internet

Lipót Fejér - Nhà toán học Hungary


Lipót Fejér vốn tên là Leopold Weiss nhưng đã đổi tên cho có vẻ Hungary vào khoảng thời gian năm 1900, một điều khá phổ biến vào thời đó.

Năm 1897 Fejér giành được giải tại một trong những cuộc thi toán đầu tiên tổ chức ở Hungary. Từ đó đến 1902 Fejér đã học toán và vật lí tại Đại học Budapest và Berlin, nơi ông theo học Schwarz. Sau khi ông đổi tên thành Fejér, Schwarz đã không tiếp chuyện ông nữa.

Năm 1900 Fejér công bố một định lí tổng căn bản của chuỗi Fourier, đây là cơ sở của luận văn tiến sĩ ông đã trình trước đại học Budapest năm 1902.

Từ 1902 đến 1905 Fejér dạy tại Đại học Budapest và từ 1905 đến 1911 ông dạy tại Kolozvár ở Hungary (giờ là Cluj của Romania). Năm 1911 Fejér được bổ nhiệm một vị trí về Toán trong Đại học Budapest và đã giữ vị trí đó đến lúc qua đời nhưng xung quanh chuyện ông được bổ nhiệm đó cũng có nhiều vấn đề: Mặc dù ông đã được sự ghi nhận nồng nhiệt của Poincaré khi nhận giải thưởng Bolyai nhưng việc bổ nhiệm ông đã bị nhiều người bài Do thái ở khoa phản đối. Một trong số họ, biết rõ rằng tên ông vốn là Weiss đã hỏi xem ông có liên quan gì đến một đồng nghiệp ở khoa thần học, Cha Ignatius, không.Loránd Eotvos, giáo sư Vật lí đã không ngần ngại trả lời : "Con ngoài giá thú", và sau đó mọi chuyện diễn ra suôn sẻ.

Trong thời gian ở Budapest Fejér đã lãnh đạo một trường phái giải tích rất thành công của Hungary.

Fejér làm chủ yếu về Giải tích điều hòa. Ông nghiên cứu về các dãy lũy thừa và lí thuyết thế vị. Đa phần các công trình của ông liên quan đến chuỗi Fourier và các điểm kì dị của chúng. Ông cũng có nhiều cống hiến cho Lí thuyết xấp xỉ. Fejér cũng từng viết chung với Carathéodory một bài báo về hàm nguyên (1907) và một công trình khác với Riesz về ánh xạ bảo giác (1922).

Bên cạnh đó Fejér còn là một giảng viên rất tuyệt như một học trò của ông đã nhớ lại : "Fejér đã giảng những bài giảng rất ngắn gọn mà vô cùng đẹp đẽ", "Những bài giảng thường được suy nghĩ kĩ đến từng chi tiết và có một kết thúc đầy kịch tính. Ông dường như đã làm sống lại sự ra đời của từng định lí, chúng tôi được đưa đến thời điểm chúng được tạo thành. Ông cũng làm cho những người nổi tiếng đương thời trở nên đầy sống động; họ sống dậy từ từng trang sách. Điều đó làm cho Toán học hiện ra vừa như một hoạt động trí óc lại vừa như một hoạt động xã hội"
Nguồn : Wikipedia

Leonardo Fibonacci ( 1170 -1250)


Leonardo Fibonacci ( 1170 ?-1250?) là một nhà toán học thiên tài thời Trung cổ . Ông sinh ra ở Pisa (Ý) nơi cha ông làm việc về thương mại .Công việc của cha ông đã tạo sự thích thú cho ông về môn số học và nhờ những chuyến đi dài ngày sang Ai Cập, Sicily, Hy Lạp và Siri đã giúp cho ông có cơ hội tiếp xúc với toán học Ai Cập và toán học Phương Đông. Ông bị thu hút bởi tính thực tiễn cao của nền toán học Ấn Độ - Á Rập, vào năm 1202 Fibonacci đã công bố công trình nổi tiếng của mình là "Liber abaci."
"Liber abaci "viết về số học và đại số sơ cấp. Cuốn sách minh hoạ rất nhiều và bênh vực mạnh mẽ các ký hiệu của Ấn Độ - Á Rập và đã tìm mọi cách đưa những chữ số này vào Châu Âu. Trong 15 chương của công trình này đã giải thích cách đọc và cách viết các chữ số mới , các phương pháp tính toán các căn bậc hai và bậc ba, việc giải các phương trình bậc nhất, bậc hai bằng các quá trình đại số. Các nghiệm âm và ảo chưa được biết tới. Có đưa ra những ứng dụng trong việc trao đổi, góp vốn, giải các bài toán hợp thành và hình học đo lường. Công trình gồm cả một sưu tập lớn các bài tóan xem như kho tàng cho các tác giả về sau trong nhiều thế kỷ. Một bài toán đưa đến dãy Fibonacci nổ tiếng : 1, 1, 2, 3, 5,.., x, y, x+y,.., Vào năm 1225, Fibonacci đã viết " Liber quadratorum", một công trình xuất sắc và độc đáo về tính bất định khiến ông trở thành nhà toán học nổi tiếng trong lĩnh vực này cùng với Diophantus và Fermat.

Ðánh giá: Bài viết có nội dung góp ý xây dựng
Ði?m: +2
Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 10:05 AM   #9
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Tài năng của Fibonacci đã được Hoàng đế Frederick II chú ý và đã được thỉnh về để dự một cuộc tranh tài về toán học. Ba bài toán được đặt ra bởi John ở Palermo. Bài toán đầu tiên là tìm một số hữu tỉ x sao cho x2+5 và x2-5 đều là số những số bình phương của các số hữu tỉ. Fibonacci đã giải và đưa ra đáp số đúng là 41/12.

Vào thế kỷ XIII cũng xuất hiện một toán học cùng thời với Fibonacci là Jordanus Nemorarius. Ông viết nhiều công trình về số học, đại số, hình học, thiên văn học và (có lẽ) cả về tĩnh học . Những công trình này có giá trị không cao. Tuy nhiên Nemorarius có lẽ là người đầu tiên đã sử dụng rộng rãi các chữ cái để biểu thị các số tổng quát. Đối với điều này, Fibonacci chỉ làm trong một điều cá biệt duy nhất .
Vào những năm đầu của thế kỷ thứ XIII đã mọc lên những trường đại học ở Paris, Oxford, Cambridge, Padua và Naples. Những trường đại học này sau này trở thành những nhân tố quan trọng cho sự phát triển toán học sau này, và có nhiều nhà toán học đã có liên hệ với một hoặc nhiều đại học trên.
Nguồn : Internet

Giovanni Ceva


Giovanni Ceva sinh ngày 7 tháng 12 năm 1647 tại Milan, nước Ý. Ông mất ngày 15 tháng 6 năm 1734 tại Mantua, nước Ý.

Thuở nhỏ, ông theo học tại trường dòng Thiên chúa giáo ở Milan. Lớn lên ông học ở Đại học Pisa, và sau đó, năm 1686 được bổ nhiệm làm giáo sư Toán tại trường Đại học Mantua, nơi ông gắn bó suốt đời.
Năm 1686, khi mới được bổ nhiệm, Giovanni Ceva làm việc dưới quyền cai trị của vua Gonzagas. Tuy nhiên, năm 1708 nước Áo đem quân chiếm đóng và bắt đầu xây dựng công sự. Giovanni Ceva nhanh chóng chuyển sang làm việc dưới chế độ thống trị của người Áo.

Phần lớn cuộc đời, Giovanni Ceva giành cho việc nghiên cứu hình học. Ông đã khám phá ra một trong những kết quả quan trọng về tam giác bằng phương pháp hình học tổng hợp. Định lý phát biểu rằng các đường thẳng qua đỉnh của tam giác và cắt cạnh đối diện rõ ràng là đồng quy khi tích tỷ số các đoạn thẳng chia cạnh tam giác bằng 1 (xem hình minh họa để nắm rõ hơn). Định lý Ceva này được in trong cuốn “De lineis rectis” (1678).

Ceva cũng phát hiện lại và xuất bản định lý Menelaus. Ông còn nghiên cứu ứng dụng của hình học vào cơ học và tĩnh học. Ông đã có một kết luận sai rằng chu kỳ dao động của hai con lắc tỷ lệ với chiều dài của chúng, tuy nhiên, sau đó ông đã sửa chữa sai lầm này.

Ceva cho xuất bản “Opuscula mathematica” năm 1682. Trong “Geometria Motus” (1692), trong một chừng mực nào đó, ông đã có đề cập đến phép tính vi phân. Năm 1711, ông cho ra đời cuốn “De Re Nummeraria”, một trong những công trình đầu tiên về toán kinh tế, nhằm tìm ra điều kiện cân bằng cho hệ thống tiền tệ của bang Mantua.

Ceva cũng có những công trình quan trọng về thủy lực học, tiêu biểu là cuốn “Opus hydrostaticum” (1728). Ông là một viên chức ở Mantua, và đã dùng kiến thức của mình về thủy lực học để bác bỏ thành công dự án ngăn dòng chảy của sông Reno đổ vào sông Po.
Nguồn : diendantoanhoc.net

Girard Desargues ( Lyon 1591 - Lyon 1661)


Là 1 nhà Toán học Pháp, kĩ sư quân giới - đặt nền cơ sở cho môn hình họa. Hai bài toán nói về trường hợp riêng của định lí Desargues , là 1 trong những định lí cơ bản của hình học xạ ảnh. Định lí Desargues :
" Nếu trong 2 tam giác giao điểm của những cặp cạnh tương ứng thẳng hàng thì các đường thẳng nối các điểm tương ứng đồng quy"
Tư tưởng Desargues sau này được phát triển vào đầu thế kỉ XIX trong các công trình của nhà toán học pháp Mongia và Ponxen, nhà toán học Đức Steiner ...

Những gì biết về cuộc đời của Girard Desargues còn quá ít. Ông sinh ngày 21/2/1591 tại Lyon (Pháp) và mất vào tháng 9/1661 tại Lyon. Gia đình ông mấy đời giàu có và có những người làm Luật sư, Thẩm phán ở pháp viện tối cao ở Paris cũng như ở Lyon - thành phố trọng yếu thứ hai của Pháp.
Desargues có vài lần đến Paris trong nhiều ngày khi đi kiện để đòi lại một khoản nợ khổng lồ. Ngay cả khi không đòi được, gia đình ông vẫn sở hữu mấy căn nhà lớn ở Lyon, một trang viên gần thị trấn ở Vourles, một lâu đài nhỏ với những vườn nho tốt nhất bao quanh. Desargues thật sự có nhiều thuận lợi trong việc ăn học. Ông có thể mua bất kỳ cuốn sách nào ông muốn, và có thời gian, điều kiện để theo đuổi những gì ông thích: thiết kế cầu thang xoắn ốc một cách tỉ mỉ, khéo léo chế ra một dạng máy bơm mới… Với Desargues, niềm đam mê lớn nhất là Hình học. Ông là người đặt nền móng cho một môn Hình học mới mà nay gọi là "Hình Học Xạ Ảnh" hay "Hình học Hiện đại". Ông thực sự là một nhà toán học tài ba. Tuy nhiên, lối toán học của ông không hề dễ hiểu.
Khi ở Paris, Desargues tham gia nhóm toán học của Marin Mersenne (1588 - 1648). Nhóm này còn có Rene Descartes (1597 - 1650), Etienne Pascal (1588 - 1651) và Blaise Pascal (1623 - 1662) - con trai Etienne. Họ là những người ủng hộ cho công việc nghiên cứu của Desargues. Một số trong công trình nghiên cứu của Desargues về sau được Abraham Bosse (1602 - 1676) phát triển theo nhiều dạng. (Tương truyền, Abraham là một người thợ chạm, nhưng cũng có thể là một giáo viên dạy vẽ phối cảnh)

Desargues viết dựa trên các vấn đề thực tế như Nghệ thuật vẽ phối cảnh (1636), Chạm đá phục vụ cho xây nhà và đồng hồ mặt trời (1640). Tuy nhiên, bản viết của ông có nội dung dày đặc và mang tính lý thuyết đối với việc giải quyết những vấn đề có liên quan. Ông không dùng quá nhiều lời và không giải thích về cơ bản từng bước trong đề tài chủ yếu viết cho các thợ thủ công.
Tác phẩm quan trọng nhất của Desargues dẫn đến việc sáng tạo ra dạng hình học mới có tựa "Bản thảo sơ lược cho một tiểu luận gồm những kết quả về các mặt phẳng tiết diện của hình nón". Rất ít bản được in ở Paris năm 1639. Cho đến nay mới chỉ tìm lại được 1 bản vào năm 1951. Công việc của Desargues chỉ được biết thông qua bản thảo của Philippe de la Hire (1640 - 1718). Cuốn sách ngắn nhưng đầy chữ. Nó bắt đầu bằng những đường thẳng và những điểm thẳng hàng, xem xét mối quan hệ giữa 6 điểm, nghiên cứu một cách chặt chẽ về các trường hợp có liên quan đến khoảng cách vô hạn, và sau đó chuyển về các đường conic, chỉ ra rằng chúng có thể nghiên cứu trên những gì bất biến qua phép chiếu. Chúng ta nhận được một lý thuyết hợp nhất về các đường conic.

Mặc dù không trực tiếp tham khảo các định lý hay thuật ngữ của những nhà toán học Hy Lạp cổ đại, Desargues cũng nhận ra các vấn đề được đề cập trong công trình của các nhà hình học cổ (Apollonius, Pappus). Cách Desargues giải thích có khác, có thể do cách ông nhận ra vấn đề chịu ảnh hưởng sâu sắc của thực tế, đặc biệt là để nghiên cứu về nghệ thuật vẽ phối cảnh (một dạng của phép chiếu hình nón). Dường như từ nghiên cứu về nghệ thuật vẽ phối cảnh và các vấn đề có liên quan, ý tưởng mới của Desargues nảy sinh. Về sau, từ hình học họa pháp, một kỹ thuật có nhiều điểm giống với vẽ phối cảnh, Hình học xạ ảnh được xây dựng hoàn chỉnh bởi những học trò của Gaspard Monge (1746 - 1818).

Nói về Desargues, chúng ta không thể không nhắc đến định lý nổi tiếng: khi đường thẳng nối ba đỉnh tương ứng của hai tam giác đồng quy thì giao điểm của các cặp cạnh tương ứng thẳng hàng.
Nguồn : diendantinhhoc.net

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 10:10 AM   #10
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Mikhael Gromov, nhà toán học tiên tri


Tôi không muốn sống tại Mỹ vì nơi đó người ta chỉ toàn thấy xe hơi. Có lẽ chính vì lý do này mà nhà toán học người Nga Mikhael Gromov đã cảm thấy hài lòng khi tới Pháp định cư.

“Hãy vào trang web cá nhân của ông ta, thay vào bức ảnh của mình, ông ta đã để một con khỉ và bạn cũng chẳng thấy nhiều khác biệt lắm đâu!” Alessandre Carbone, một nhà toán học trẻ đã làm việc bên cạnh Mikhael Gromov vài năm nay tại Viện nghiên cứu khoa học (IHES) vui nhộn nói . Thế nhưng bên trong cái vỏ bọc xấu xí này lại là một thiên tài toán học thực sự. Thiên tài, một từ mà Mikhael Gromov rất ghét bởi ông chẳng thích thú gì khi người ta nói về mình. Tuy vậy sẽ chẳng có từ nào xứng đáng hơn với người đàn ông nhã nhặn và kín đáo này. Người mà Marcel Berger, nguyên giám đốc IHES đã nhìn nhận là “có một tầm nhìn và một trực giác hình học cực kỳ sắc bén”. Có lẽ có một từ khác cũng hợp với ông: tiên tri. Bởi chỉ riêng các công trình có tính chất dự báo của ông đã xứng với hàng loạt giải thưởng lớn. Nói một cách đơn giản, Mikhael Gromov trước hết là một nhà hình học được trao cho thiên chức tư duy lại, theo phương pháp hình học và tổng quát một loạt vấn đề trong các lĩnh vực khá đa dạng khác nhau: đại số, xác suất, vật lý lý thuyết. v.v... chính ông đã chứng tỏ bằng việc sử dụng các cấu trúc mới rằng sự đóng góp của các không gian bất định vào các vấn đề truyền thống là nhiều như thế nào.


Trở lại quá khứ
Mikhael Gromov dường như cảm thấy hạnh phúc ở IHES, trong khung cảnh đầy sắc xanh của một tòa nhà sang trọng ở vùng trung tâm Paris-Iles de France, một địa điểm gần với ga đường sắt quanh đô (RER) Bures-sur-Yvette. Đây là một chi tiết có vẻ bình thường đối với ông người khác nhưng đối với ông lại cực kỳ quan trọng. đơn giản vì ông rất thích cuộc sống đô thị nhưng lại ghét ô tô. Có mong muốn gì hơn nữa đối với người đàn ông yêu thích tự do này bằng những cánh cửa rộng mở của cơ sở khoa học đầy uy tín, nơi ông luôn phải làm việc với cường độ cao nhưng hoàn toàn khác với những áp lực phù phiếm của thế giới bên ngoài. “Micha chẳng bao giờ phải đi tìm việc cả và ông hoàn toàn không chú ý gì tới những bó buộc của cuộc sống ở trường đại học”, Alessandre Carbone nhấn mạnh. Không bao giờ phải kiếm việc vì Mikhael Gromov đã biểu hiện từ rất sớm một tài năng mà tất cả các cánh cửa của các viện nghiên cứu hầu như đều tự động mở trước mặt ông, những nơi mà bao nhiêu người khác phải giành giật nhau để có thể bước vào.
Tuy nhiên, tất cả không phải đều màu hồng trong cuộc đời của nhà khoa học người Nga ra đời năm 1943 tại một chiến tuyến ở Boksitogorsk, khu vực phụ cận của Leningrad (hiện giờ là Saint-Pétersbuorg). Cha mẹ của ông – người cha là một nhà sinh học đã trở thành bác sĩ quân y và buộc phải gia nhập Hồng quân. Tuy nhiên, những kỷ niệm tồi tệ cũng qua đi trong tâm trí của: “Tôi đã sống một năm tại Tachkent, Ouzebekistan. Thật là thú vị khi được khám phá một nền văn hóa khác lúc đó. Ngược lại, tôi cực kỳ ghét tới trường: trong 19 năm học thì 10 năm vứt đi”. Nhưng chính người mẹ của ông đã đánh thức tài năng toán học của con mình. Khi ông 9 tuổi, mẹ đã tặng ông cuốn sách toán học đầu tiên: “Con số và hình ảnh” của Rademacher và Teplitz. Tuy nhiên, lúc đó chính môn hóa học mới là môn cuốn hút ông nhất. “Môn hóa làm tôi thích thú vì tôi có thể làm các thực nghiệm ở nhà”, ông nhớ lại. Nhưng những buổi học ngoại khóa đặc biệt mà ông theo học vào năm cuối của trung học đã khiến ông thay đổi ý định. Ông chuyển sang học toán nhiều hơn vì chỉ có môn học “nhẹ nhàng” này mà người ta có thể sử dụng bằng chính cái đầu của mình”.
Trên thực tế, rất ít khi ông muốn nhắc lại những năm tháng nặng nề của tuổi thơ ấu cứ như thể là cuộc sống của ông chỉ mới bắt đầu sau thời kỳ đó: “Chính từ đó mà tôi mới cảm thấy dễ chịu. Tôi có thể làm điều mình muốn, làm việc theo nhịp riêng của mình và cũng từ lúc đó tôi bắt đầu quan tâm tới những môn học khác ngoài toán”. Việc mở rộng ra các ngành khoa học đó thực ra là một trong những đặc tính của các nhà toán học Nga thời đó. Một đặc tính mà Gromov không hề thấy ở cả Mỹ hay Pháp.
Chẳng mấy chốc, Mikhael đã được mọi người biết đến. sau khi tốt nghiệp, ông trở thành trợ giảng ở trường đại học vào năm 1967. Tới năm 1970, ông được mời đi dự một hội nghị toán học quốc tế tổ chức tại Nice (Pháp). Dù không thể đi ông vẫn gửi bài phát biểu của mình tới hội nghị, thông qua một đồng nghiệp người Anh. Năm sau đó, ở tuổi 28, ông được nhận giải thưởng của Hội toán học Matxcơva. Ông bắt đầu nổi tiếng. Cương vị trợ giảng ở đại học giúp ông có thể đi ra nước ngoài. Đây là vị trí dành cho những người mong muốn đi giảng dạy toán học ở những nước đang phát triển, bạn của Liên Xô. Ông đã chọn Sudan: nhờ vậy ông được học các khóa tiếng Anh tuyệt vời do trường đại học đài thọ chi phí. Nhưng không may, Liên Xô cắt đứt quan hệ ngoại giao với Sudan. Thế là một lần nữa ông không thể đi ra nước ngoài. Năm 1972, ông đột ngột rời công việc ở trường đại học. Đầu tiên, ông tìm đến làm việc tại một viện nghiên cứu khí tượng trong vòng một năm. Tiếp đến, ông làm việc trong một cơ sơ nghiên cứu chuyên về sản xuất bột giấy. rồi ông sang Mỹ khi có một lời mời làm giáo sư đại học New York, lúc ông ở Roma.

Cuộc sống mới
Thế giới mới đồng nghĩa với các trách nhiệm mới. lần đầu tiên trong đời của mình, ông thực sự dạy học. cho đến nay, ông vẫn không cho rằng các bài học đầu tiên mà ông dạy đã đem lại những kỷ niệm tốt cho sinh viên của mình. Lúc còn ở Liên Xô, ông là một nhà nghiên cứu trẻ tuổi nhưng ngay ngày hôm sau khi tới Mỹ, ông đã trở thành một giáo sư: “Trong vòng có một tháng, tôi đã già đi – về mặt nghề nghiệp mà nói khoảng 10 năm”, ông vui nhộn nhớ lại.
Nói một cách khác, những trách nhiệm mới đã thực sự ngang tầm tới tài năng của ông. 31 tuổi, nghiệp toán của ông đã bắt đầu đi vào quĩ đạo.

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 10:16 AM   #11
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

quĩ Inamori mà ông nhận vào năm 2002. Tuy nhiên, ông đã rời Mỹ để tới Pháp, chính xác là vào năm 1981. Tại sao lại ra đi? Mọi việc đơn giản tựa như nó phải thế. “Tôi bắt đầu dạy khoảng 3-4 tháng mỗi năm tại Đại học Paris VI, sau đó người ta mời tôi làm việc tại IHES và thực sự tôi đã muốn ở lại”. Trong sâu thẳm của mình, ông chẳng thích thú gì với cuộc sống Mỹ tại “sa mạc” Lang Island. Ông luôn nhớ tới những hình ảnh nhộn nhịp của các thành phố Châu Âu như Paris hay Saint-Pertersbourg. Ở Mỹ, theo ông người ta mất rất nhiều thời gian: luôn phải sử dụng ô tô riêng vì các phương tiện giao thông công cộng rất ít. Người ta có thể nghĩ ngợi trong tàu hỏa nhưng không phải trên ô tô, ít nhất là như vậy...
Ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ và không ngừng ngẫm nghĩ, ở bất kỳ thời điểm nào, ngày cũng như đêm để đương đầu với các thách thức. Để thuận tiện cho công việc của mình, ông không dùng sổ ghi chép mà sử dụng một chiếc máy tính nhỏ. Cũng có lúc trong đầu hiện lên những kết luận mà ông cho rằng hợp lý thì cách duy nhất ông nghĩ tới là cô thư ký Helga Dermois. Cô này nhận xét: ông là người suy nghĩ rất nhanh, rất nhiều và luôn có các ý tưởng không ngừng. các bài báo ông nghĩ ra rất dài và chứa đầy các ví dụ cụ thể. Ngay khi đọc cho chúng tôi 1 văn bản nào đó, ông không mất quá nhiều thời gian để đọc lại mà thường quay sang một vấn đề khác. Ở tuổi 59, không hiểu tại sao mà ông lại luôn có những ý nghĩ sáng tạo như vậy? Có phải những nhà toán học luôn hiệu quả thời còn trẻ? “Đối với người khác thì có thể vậy nhưng Gromov thì không. Ông vẫn tiếp tục làm một cách say mê. Ông là một người cực kỳ đòi hỏi. Tôi đã cùng ông soạn những bài viết và đó là một công việc nặng nhọc nhưng rất hấp dẫn”, Alessandre Carbone kể lại. Để bỏ được thói quen hút thuốc, ông đã phải theo một chế độ đặc biệt trong 5 năm. Điều ông buồn nhất là khả năng suy nghĩ bị tụt giảm. Để khỏi buồn chán, ông đã học tiếng Ý trong vòng vài tháng. Nhưng cá tính của ông là vậy, không dừng lại ở đó. “Lúc đó chúng tôi đã buộc một sợi dây vào hai gốc cây và ông đã chỉ cho chúng tôi cách đi trên dây là như thế nào. Khác với phần lớn các nhà toán học khác, Gromov là một người rất thích thể thao”, Carbone nói. Marcel Berger còn khẳng định ông đã một lần chứng kiến Gromov nhảy một phát từ sân ga vào trong tàu hỏa qua một ... cửa sổ. Gromov nghĩ rằng mình sẽ đạt đỉnh cao trí tuệ vào tuổi 40. Nhưng kể từ khi ông bắt đầu hút thuốc trở lại thì những suy nghĩ của ông lại tiếp tục tuôn trào.
Năm 1997, trong các buổi thảo luận Bures về việc hình thành các môtíp, ông mời một số khách trong đó có cả các nhà sinh học làm việc trên lĩnh vực phân chia tế bào. Từ đó, ông dành phần lớn thời gian của mình để nghiên cứu các công trình sinh học phân tử. Một phương pháp ứng dụng liên ngành mới hiếm thấy đối với các nhà toán học Nga.
Nguồn : trích từ tạp chí Tia sáng số 10 (tháng 10/2004)

Johannes Kepler


Wurtemberg 1571-Ratisbonne 1630
Ông xuất thân từ một gia đình rất bình thường :cha ông là người làm thuê, mẹ ông là con một người bán quán ,thích gây gỗ đánh nhau .Johannes là một cậu bé ốm yếu ,lên 4 tuổi bị bệnh đậu mùa suýt nguy dến tính mạng ,nhưng may mắn qua khỏi ,di chứng để lại là thị lực bị giảm.Từ nhỏ ,tuy sức khỏe kém nhưng Johaness đã chứng tỏ cho mọi nhười thấy rằng mình học được ,vì vậy Johness được theo học có hệ thống ,từ trường Dòng địa phương cho đến Trường Đại Học Tubigen,và may mắn là Johaness được theo học bài giảng của nhà thiên văn học nổi tiếng thuộc trường phái COPERNIC .Năm 1595 KEPLER công bó sách viết vè các hành tinh ,và từ năm 1594 ông dạy toán và đạo đức ở trường trung học ở Graz .Năm 1600 ông đành rời bỏ công việc đang làm vì lý do tôn giáo và sang làm trợ lý cho nhà thiên văn nổi tiếng người Đan Mạch TYCHO BRAHE lúc đó đang làm giám đóc đài thiên văn Benatek gần Brague phục vụ cho vua RODOPHE II .Năm 1601,nhà bác học BRAHE mất ,KEPLER được cử tiếp tục công việc của thầy học .Năm 1613,sau khi vợ ông và người con trai qua đời, ông đau buồn ,trở vè Lin,một thành phố thuộc Áo ,bên bờ sông Danube ,dạy trung học .Trong 4 năm, cuối đời ,KEPLER lang thang qua nhiều thành phố ,kiếm sống bằng cách xem số tử vi .
Tuy là một nhà khoa học có tên tuổi nhưng cuộc đời riêng của ông thật là bất hạnh .Người vợ đầu tiên của ông bị điên và mất sớm . Để tránh điều xấu số một lần nữa trong đời ,KEPLER đã nghiên cứu tỉ mỉ các ưu và khuyết điểm của 11 người đàn bà khác và quyết định di bước nữa với một người khá nhất trong số ấy.Nhưng bước đi này còn tệ hại hơn!
KEPLER nổi tiếng vì đã tìm ra 3 quy luật về quỹ đạo của các hành tinh.Nhưng điều mà các nhà toán học nhớ đến ông lai rất quan trọng vì KEPLER nghiên cứu về conique .Chính ông là người đầu tiên đã dùng từ tiêu điểm và là người đầu tiên dùng từ một điểm ở vô tận . Ông cũng để lại cho đời sau những kết quả nghiên cứu về đa diện hình sao đều . Ông khám phá ra được 2 hình,và những hình còn lại do POINSOT .Công của KEPLER ở chỗ ông đã tính được điện tích và thể tích : ông có sáng kiến chia nhỏ một mẳt ra những phần vô cùng nhỏ mà diện tích là tính được ,rồi lấy tổng của những diện tích vô cùng nhỏ ấy .Tuy phương pháp ông chưa thật là hệ thống lắm nhưng đó chính là những ý tưởng báo hiệu cho "Lý thuyết các vô cùng nhỏ ,không thể chia nhỏ hơn" của CAVALIERI.Chính nhờ phương pháp này mà ông suy ra định luật diện tích của các quỹ đạo của các hành tinh ( trong chứng minh của ông có hai cái sai, nhưng may mắn thay chúng triệt tiêu lẫn nhau !) Người ta kể lại, để giúp cho những người bán rượu vang tính được thể tích các thùng chứa rượu, ông cho xuất bản quyển Hình học mới về các thùng chứa rượu vang trong đó ông thử tính 93 thể tích thùng chứa rượu (đều là những hình tròn xoay).
Nguồn : Wikipedia

Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 10:24 AM   #12
BaamBoo
Crazy Boy
 
GT COIN: 28,514

Ngày tham gia: Sep 2007
Age: 27
Bài viết: 1,714
Thanks: 3
Thanked 16 Times in 10 Posts
Tổng điểm: 123
- Ðiểm thưởng : 164
- Số lần thưởng điểm : 61
BaamBoo's Inventory

Talking Tổng hợp lịch sử các nhà toán học tài ba trên thế giới !

Norbert Wiener


N. Vine sinh ngày 16/11/1894 tại thành phố Côlumbia bang Missuri (Mỹ), trong một gia đình Do Thái. Cha ông, Lêô Vine (1862-1939) sinh ở Bêtôxtôka (trước kia là vùng thuộc Nga), hồi trẻ học ở Đức, sau sang Mỹ. Tại Mỹ, sau nhiều lần chìm nổi ông đã trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng. Khi còn ở Côlumbia, ông đã là giáo sư ngôn ngữ hiện đại của trường Đại học Tổng hợp Missuri, sau đó trở thành giáo sư tiếng Xlavơ kỳ cựu nhất của Mỹ tại Trường ĐH Tổng hợp Havard thuộc thành phố Kembrid bang Massachuxet gần Boston. Ông đã gây được nhiều ảnh hưởng tốt đén N. Vine.
Từ nhỏ Vine đã thể hiện nhiều năng khiếu xuất sắc. Cha cậu đã dạy con theo một chương trình đặc biệt. Chú bé Vine mới 7 tuổi đã đọc Đácuyn và Đantơ, 11 tuổi chú tốt nghiệp trung học, 14 tuổi học cao đẳng và nhận bằng bác học đầu tiên là thạc sĩ khoa nghệ thuật.
Sau đó Vine học ở trường Đại học Tổng hợp Havard như một nghiên cứu sinh và năm 17 tuổi anh trở thành phó tiến sĩ khoa nghệ thuật; 18 tuổi (năm 1913) anh đỗ tiến sĩ triết học với các chuyên đề về logic toán. Tại Havard, Vine nghiên cứu triết học dưới sự hướng dẫn của Dj. Xantaiana và Dj. Rôix.
Trường Đại học Tổng hợp Havard đã tạo điều kiện vật chất cho vị tiến sĩ trẻ tuổi tham quan học vấn ở châu Âu vào những năm 1913-1915. Vine đã đến Trường Đại học Tổng hợp Kembrid Anh và Gơttingghen ở Đức, nhưng sau đó, do chiến tranh nên anh phải trở lại Mỹ và kết thúc chuyến đi bổ sung học vấn của mình tại Trường Đại học Tổng hợp Côlumbia ở Niuioc. Tại trường Đại học Tổng hợp Kembrid, Vine đã theo học Béctơrăng Rútxen nổi tiếng, người mà thời kỳ đầu thế kỷ đã có uy tín rất lớn trong lĩnh vực logic toán.. Vine cũng đã từng theo học Dj. Khardi, một chuyên gia về lý thuyết số. Vine viết trong cuốn hồi ký của mình như sau: “Rutxen đã cho tôi biết ý đồ thông minh là nếu bạn vũ trang cho mình kiến thức về logic toán và triết học về toán thì bạn có thể biết một cái gì đấy trong lĩnh vực toán học”.
Tại Gơttingghen, Vine đã theo học nhà toán học Đức vĩ đại nhất Đ. Hinbe, nghe bài giảng của nhà triết học E. Gusserl.
Giai đoạn làm việc của Vine bắt đầu từ năm 1915. lúc đầu anh làm trợ giáo tại tổ bộ môn Triết học ở Havard, nhưng chỉ được một năm. Ông đã từng làm phóng viên, có lần đã định gia nhập quân đội…Sau cùng, nhờ sự giúp đỡ của nhà toán học F. V. Oxguđ, bạn của cha ông, Vine đã tìm được việc tại trường Đại học bách khoa Masschuxet. Năm 1919, ông được công nhận là giảng viên khoa toán và cho đến cuối đời Vine vẫn làm việc ở đó. Năm 1926, Vine làm lễ cưới Margarita Engeman, một phụ nữ Mỹ gốc Đức.
Theo Vine thì những năm 1920-1925 là thời kỳ ông say sưa với toán học. Ông có khát vọng giải các vấn đề phức tạp của vật lý và kỹ thuật bằng những phương pháp toán học trừu tượng hiện đại. Ông nghiên cứu lý thuyết chuyển động Brao, thử sức mình trong lý thuyết thế, đi sau vào giải tích điều hòa tổng quát nhằm áp dụng cho lý thuyết thông tin. Kiến thức bách khoa của Vine được tích lũy dần dần, chậm chạm nhưng chắc chắn.
Năm 1932 Vine (khi đó đã là giáo sư chính thức) đã có danh tiếng xứng đáng trong hàng ngũ các nhà bác học châu Âu và châu Mỹ. Ông hướng dẫn học trò viết luận án; xuất bản những cuốn sách giá trị về toán học như: “Giải tích điều hòa tổng quát”, “Định lý Taubre”, “Tích phân Phuriê và một vài ứng dụng”,…; cùng nghiên cứu với nhà toán học Đức E. Gopf về trạng thái cân bằng của các sao và đưa vào khoa học “Phương trình Vine-Gopf”. Một công trình khác nữa Vine viết cùng với nhà toán học Anh R. Peli “Biến đổi Phuriê trong vùng ảo”. Cuốn sách này đang viết dở thì Pile bị chết trong một lần trượt tuyến, sau đó Vine viết tiếp với nhà bác học Trung Quốc Li và V. Bus. Trong những năm 1935-1936 Vine là phó chủ tịch hội toán học Mỹ.
Thời kỳ 1920-1930 Vine thường sang châu Âu làm quen với nhiều nhà bác học trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Ông sống khá lâu ở Kembrid và Gơttinhghen, tham gia vào những hội nghị toán học quốc tế, đặc biệt quan hệ với những nhà bác học lớn đương thời như: M. Prese, I. Ađammar, N. Bo, Dj. Golden, Dj. Bernal.
Năm 1935-1936 Vine thăm Trung Quốc và giảng bài tại Trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh. Mối quan hệ của ông với các nhà bác học ngày càng được củng cố và mở rộng, điều này đã gây được ảnh hưởng tốt đến sự nghiệp khoa học của Vine. Thời kỳ này Vine 40 tuổi và kiến thức của nhà bác học đang nở rộ. Ông đã hồi tưởng: “Những công trình của tôi bắt đầu kết quả, tôi đã kịp đăng hàng loạt những vấn đề tự nghiên cứu và đã làm xong việc chuẩn bị cho một hướng phát triển moéi mà trong khoa học sẽ có chỗ cho nó”. Chính khuynh hướng này đã đưa Vine đến sự hình thành khoa học về điều khiển.
Trong thời gian đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), Vine nghiên cứu lý thuyết về mạng điện, kỹ thuật tính toán. Chậm hơn một chút nhưng không phụ thuộc gì vào A. N. Kolmogorop, Vine đã phát biểu lý thuyết nội suy và ngoại suy của những quá trình ngẫu nhiên tĩnh. Vine đã cống hiến cho hướng phát triển lý thuyết “lọc”, một lý thuyết được áp dụng rộng rãi trong kỹ thuật. Trong thời gian ở Mêchxich (1945-1947) Vine đã nêu lên sự cần thiết phải hình thành một ngành khoa học thống nhất nhằm nghiên cứu các quá trình nhận, giữ và nhào nặn thông tin, các quá trình điều khiển và kiểm tra. Ông đề nghị đặt tên cho ngành khoa học mới mẻ và đầy tương lai là xibecnêtic. Chính C. Sennon cũng có công lớn trong việc hình thành xibecnêtic, nhưng Vine là người đầu tiên truyền bá ý nghĩa của điều khiển học trong toàn bộ hẹ thống nhận thức của con người.
Mặc dù còn có nhiều quan điểm hạn chế trong quan điểm về triết học, về xã hội, nhưng Vine đã thể hiện đúng đắn vai trò của một nhà khoa học trong thời kỳ hiện đại. Ông luôn luôn đấu tranh cho việc áp dụng những thành tựu khoa học vào mục đích hòa bình. Vine hết sức phản đối việc tách rời lý luận với thực hành trong khoa học chân chính. Bản thân Vine có một lòng say sưa vô hạn những vấn đề khoa học phức tạp, những nghịch lý và những giả thuyết rắc rối.
Vine mất ngày 19/3/1964 tại Xtôckhôn.
Nguồn : trích trong sách “Con số và tư duy” của A. M. Konđratov (Xuân Trung dịch), Nxb KH&KT, HN, 1975

Ðánh giá: Bài viết có nội dung góp ý xây dựng
Ði?m: +2
Thành viên BaamBoo đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 19-09-2007, 01:05 PM   #13
FreeMoon
Game Thủ Tích Cực
 
GT COIN: 761

Ngày tham gia: May 2006
Địa chỉ: Seattle-Washington-US
Age: 23
Bài viết: 1,447
Thanks: 0
Thanked 6 Times in 6 Posts
Tổng điểm: 22
- Ðiểm thưởng : 22
- Số lần thưởng điểm : 11
FreeMoon's Inventory

Default

Thanks nhiều, mặc dù mình chưa đọc một chữ nào
Post nhiều quá ai mà dám đọc trời, đảm bảo mod nào cộng điểm cho bạn cũng chưa đọc hết 1 người nào

__________________
le_ngockhoi@yahoo.com


lmao = laugh my ass off
lol = laugh out loud
rofl = rolling on floor laughing
brb = be right back
jk = just kidding
oj = oh jesus



kalas thumas tenumika rilorotu
Thành viên FreeMoon đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 10-12-2009, 08:20 PM   #14
PROHacker1804
Game Thủ Tích Cực
 
GT COIN: 2,907

Ngày tham gia: Aug 2007
Địa chỉ: trên mặt đất, dưới mặt trời, có thế cũng hỏi
Age: 21
Bài viết: 863
Thanks: 2
Thanked 1 Time in 1 Post
Tổng điểm: 0
- Ðiểm thưởng : 15
- Số lần thưởng điểm : 5
PROHacker1804's Inventory

Default

Blaise Pascal đâu rồi

Thành viên PROHacker1804 đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Old 24-12-2009, 01:11 PM   #15
-ZoKeR-
Game Thủ Tiềm Năng
 
GT COIN: 5,519

Ngày tham gia: Oct 2009
Bài viết: 421
Thanks: 5
Thanked 12 Times in 8 Posts
Tổng điểm: 8
- Ðiểm thưởng : 8
- Số lần thưởng điểm : 4
-ZoKeR-'s Inventory
Hoa hồng
Default

dài quá
ko đọc...
đi ra...

dài...
ko mún đọc...
đi ra...


Hiệu chỉnh lần cuối bởi -ZoKeR-: ngày 24-12-2009 lúc 01:12 PM.. Lý do: Tự động gộp bài
Thành viên -ZoKeR- đang offline   Trả lời với trích dẫn nội dung
Trả lời

Bookmarks

Công cụ hỗ trợ
Cách hiển thị

Quyền hạn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies được Mở
[IMG] code được Mở
HTML code được Tắt

Truy cập nhanh

Tính theo giờ GMT +7, bây giờ là 01:50 PM.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios
Chuyên mục giải trí của VnExpress.net. Gamethu.net giữ bản quyền nội dung trên website này.